Thứ Năm, 12 tháng 2, 2009

Hương vị mùa xuân

-Tệ hại quá! Tệ hại đến thế là cùng!
-Bác Viễn này, cáu giận là không tốt cho sức khỏe đâu. Có chuyện gì mà mới sáng ra mà đã bức xúc thế?
-Không chỉ riêng tôi mà cả nước đang phẫn nộ chuyện xà xẻo tiền tết của người nghèo đây này.
-Cóchuyện táng tận lương tâm thế sao? Nội vụ thế nào bác kể tôi nghe với.
-Chẳng là, vừa rồi, thương dân thời khủng hoảng, Nhà nước phải cố gồng mình lên hỗ trợ hàng nghìn tỷ đồng cho đồng bào nghèo cả nước có cái tết tối thiểu. Vậy mà, nhiều địa phương lại tìm cách ăn bớt.
-Chắc họ bớt chút xíu lấy tiền xăng xe thôi mà
-Ai bảo bác thế?Theo qui định mỗi người nghèo được nhận 200 nghìn đồng nhưng họ chỉ đưa có 50 nghìn đồng thôi.
-Kinh thế cơ à? Chắc họ sợ đưa nhiều thì dân lại ăn tiêu hoang phí đây.
-Cái đáng trách là họ bớt xén của người già neo đơn, cả của người tàn tật nữa…
-Người già răng rụng hết có ăn được thịt cá đâu mà đưa nhiều, để tiền trong người mà gặp trộm cướp thì khốn. Còn người tàn tật nhu cầu mua sắm cũng ít, có mấy đồng lại để rơi mất thì phí lắm. Số tiền mà các thôn, các xã đó giữ lại để làm gì hả bác?
-Theo người dân tố cáo thì để chia cho các hộ giàu đã có xe hơi nhà lầu
-Cũng tốt, số tiền trên trời rơi xuống này dùng để đổ xăng cho ôtô, tha hồ mà du xuân, kích thích phát triển du lịch. Theo bác 50 nghìn đồng mỗi người nghèo được nhận thì mua sắm được gì nhỉ?
-Ai bảo bác là người nghèo dùng số tiền đố để mua sắm. Chắc họ đặt lên ban thờ để tổ tiên chứng giám lòng thành, sau đó lấy xuống, thỉnh thoảng đưa lên mũi ngửi để cảm nhận được hương vị của mùa xuân.
-Bác nhớ nhắc họ, ngửi cũng phải tiết kiệm thôi kẻo tiền bạc màu không tiêu được đâu

Cận

Nguyễn Khắc Hiếu - Người con của núi Tản sông Đà

Nếu ai đã từng dừng chân ở huyện Bất Bạt (nay là huyện Ba Vì - Hà Tây) hẳn sẽ có cảm nhận đây là một vùng quê nghèo với những thửa ruộng nhỏ, cằn cỗi, nằm thấp thoáng giữa đám đồi thấp lúp xúp chạy dài ngút tầm mắt. Hiện giờ, người dân nơi đây vẫn chủ yếu sống bằng nghề nông hoặc buôn bán nhỏ lặt vặt. Có ai nghĩ rằng tại cái làng Khê Thượng yên ả đến tẻ nhạt này lại có thể sản sinh ra một Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu mà tiếng tăm còn vang vọng đến hôm nay.

Nghìn năm thi sĩ
tửu đồ là ai

Nói tới Tản Đà là người ta nhắc đến những giai thoại về một thời ngang dọc trong làng thơ làng báo của ông. Những câu chuyện vừa bi vừa hài, vừa trân trọng và châm biếm, cười cợt, thực - giả lẫn lộn này giúp chúng ta có cái nhìn khá toàn diện về một nhân vật đặc biệt trong làng văn làng báo nước ta những năm đầu thế kỷ 20. Mặc dù mọi ý kiến về ông cho đến nay vẫn chưa đi đến thống nhất nhưng hầu hết đều phải thừa nhận một thực tế: Tản Đà là hiện tượng hiếm hoi của văn học và báo chí Việt Nam thời thuộc Pháp, là dấu gạch nối giữa truyền thống với hiện đại, giữa cựu học với tân học.
Tản Đà được sinh ra trong một gia đình quan lại thuộc hạng quyền quý dưới triều nhà Nguyễn. Thân sinh ra ông là Nguyễn Danh Kế đã từng làm đến án sát Ninh Bình. Người anh cùng cha khác mẹ Nguyễn Tái Tích cũng đỗ đạt cao, được bổ tri huyện Yên Mô (Ninh Bình), sau làm tri huyện Vụ Bản (Nam Định), rồi đốc học Vĩnh Yên. Mẹ ông, bà Ngữ Thị Nghiêm là vợ thứ ba của Nguyễn Danh Kế vốn là một đào hát nổi tiếng tài sắc của thành Nam (Nam Định). Sau khi ông án Kế mất một thời gian, bà Nghiêm đã cùng cô con gái thứ hai là Nguyễn Thị Trang trở lại nghề xướng ca, bỏ lại Tản Đà lúc đó mới 4 tuổi cho nhà chồng nuôi. Đây là nỗi điếm nhục lớn đối với gia phong và nó đã đeo đẳng suốt cuộc đời Tản Đà, góp phần hình thành nên tính tự ti, mặc cảm, nỗi cô đơn khôn cùng trong tình cảm, tâm hồn ông. Nhờ sự quan tâm, chăm sóc của bà mẹ già và của ông Nguyễn Tái Tích, Tản Đà được ăn học đến nơi đến chốn. Ngay từ thuở nhỏ ông đã nổi tiếng là đứa trẻ ham học, thông minh, hứa hẹn một tương lai rộng mở trước mắt. Tuy nhiên vận số của ông dường như không hợp với con đường danh lợi. Đầu năm 1912 Tản Đà thi trượt Hậu bổ, sau đó mấy tháng ông tiếp tục thi Hương cũng bị đánh hỏng. Khát vọng làm quan để được lấy con gái ông Đỗ Thận tan thành mây khói. Chứng kiến cảnh người yêu lên xe hoa với kẻ khác, ông trở nên điên loạn, nay đây mai đó. Có thời kỳ ông về ở ẩn trên chùa Hương. Năm 1913, ông Nguyễn Tái Tích được thăng Đốc học Vĩnh Yên đã đem Tản Đà đi theo. Được sự động viên, ai ủi của người anh, Tản Đà dần tĩnh trí trở lại, bắt đầu viết bài gửi cho các báo. Sau này, nhiều lần ông đã tâm sự với bạn bè, đại ý: Ngày ấy, nếu đỗ đạt, ông sẽ ra làm quan, sẽ có vợ đẹp con khôn, nhà cao cửa rộng, nhưng xã hội sẽ mất một nhà nhơ. Ông lấy làm may mắn vì đã thi trượt:
Bởi ông hay quá! Ông không đỗ
Không đỗ, ông càng tốt bộ ngông.
Vào thời điểm chuẩn bị diễn ra cuộc đại chiến thế giới lần thứ nhất Tản Đà bắt đầu bước chân vào làng báo. Được cụ Trịnh Xuân Nham giới thiệu Tản Đà đã làm quen với ông Nguyễn Văn Vĩnh, một nhà báo lẫy lừng, đang giữ chân chủ bút tờ Đông Dương Tạp chí. Chỉ sau có vài bài tản văn như Đánh bạc, Đạo bố con đời bây giờ, Tản Đà đã khắc được dấu ấn của mình trong lòng bạn đọc, để lại ấn tượng rất lớn cho ông Nguyễn Văn Vĩnh. Nhờ cấu tứ chặt chẽ, ngôn từ thâm viễn, thi vị, đầy nhạc điệu đã tạo nên một phong cách rất riêng của Tản Đà, đã thúc đẩy ông đứng ra đảm trách mục Một lối văn Nôm. Các bài viết của ông trong mục này chủ yếu bàn về đạo làm người, đề cao truyền thống đạo đức của ông cha, phê phán gián tiếp lối sống phương Tây đang từng giờ từng phút làm băng hoại xã hội, nhân quần. Cũng qua mấy chục bài viết trên báo này Tản Đà luôn chứng tỏ tấm lòng thương đời, thương người của ông. Từ năm 1916, ông bắt đầu sử dụng bút hiệu Tản Đà.
Để nghiên cứu Tản Đà người ta rất khó tách bạch giữa thơ và báo chí. Hầu hết các bài thơ của ông (bao gồm cả thơ dịch) đều đã từng được in trên báo. Ngay trong các bài viết bằng văn xuôi cũng rất giàu thi điệu, trong một số bài còn chen lẫn cả vài câu thơ. Khi đánh giá các tác phẩm của Tản Đà người ta thường đề cập cái say, cái ngông và cái mộng. Thực ra ở đây còn thiếu một vế rất quan trọng, đó là vế yêu. Yêu chính là sự khởi đầu cho say - ngông và mộng. Nói cách khác say - ngông và mộng chính là hệ quả của yêu. Chúng là một thể thống nhất, không thể tách rời, không thể đổi chỗ cho nhau. Những bài thơ đầu tiên của ông đến được với công chúng xuất hiện sau ngày người yêu đi lấy chồng. Mặc dù lúc này (1915) đã cưới bà Nguyễn Thị Tùng nhưng mối tình cũ đâu dễ nguôi ngoai trong tâm hồn Tản Đà. Chính vì vậy mà trong phần lớn các bài thơ của ông đều chứa chất đầy tâm trạng. Chẳng riêng gì Tản Đà, mỗi khi thất tình người ta lại nghĩ đến rượu để quên đi những nỗi sầu muộn. Những khi tỉnh táo họ lại muốn phá phách cuộc đời, bày tỏ sự chán chường trước thực tại, muốn tìm về một thế giới mộng tưởng, phi thực tế. Có lẽ xuất phát từ thực tế này mà có người, khi phân tích tác phẩm Thề non nước, đã khẳng định trong thơ Tản Đà không chứa đựng lòng yêu nước, chỉ là biểu hiện của tình yêu đôi lứa. ý kiến này chỉ có thể đúng với những tác phẩm được Tản Đà sáng tác vào đầu những năm 20 của thế kỷ 20 trở về trước. Càng về sau này, hình ảnh người xưa tuy chưa mất hẳn nhưng cũng đã phai nhạt dần theo năm tháng. Sáng tác của ông chỉ còn là sự gợi nhớ, man mác nuối tiếc một thời đã qua. Thậm chí việc đề cập những cái yêu - say - ngông và mộng trong thơ Tản Đà nhiều khi chỉ để chạy theo mốt, nhà thơ thời đó ai chẳng làm thế. Nhưng, cũng kể từ đầu những năm 20 của thế kỷ trước trở về sau, các phong trào yêu nước và các tổ chức cách mạng Việt Nam đã lớn mạnh không ngừng, có tác động mạnh mẽ đến nhận thức, tư tưởng của toàn xã hội, và tất nhiên trong đó có Tản Đà. Không yêu nước làm sao Tản Đà có thể viết được những vần thơ đại loại như:
“Non sông thề với hai vai
Quyết đem bút sắt mà mài lòng son...”
hay
“... Mối đâu bối rối tơ tằm
Lấy ai là kẻ đồng tâm gỡ cùng...”
hoặc
“... Lo vì phong hoá mỗi ngày suy
Thánh giáo không ai kẻ hộ trì...
... Lo vì thế cục nát như tương
Cái ruột tằm ai rối vấn vương...”
Tuy nhiên, Tản Đà là một nhà nhơ, mà lại là một nhà nho tài tử thất thế, cho nên tư tưởng yêu nước của ông chỉ có thể hoài vọng về một thời hào hùng đã qua, nuối tiếc những quy chuẩn đạo đức phong kiến giờ đã bị chế độ hiện hữu làm cho tha hoá, băng hoại. Bất lực và không hoà nhập được với thực tại, đồng thời lại không hình dung được tương lai nên cũng giống với nhiều nhà thơ đương thời, Tản Đà tìm cách trốn đời vào rượu, vào ái tình, vào thế giới mộng ảo. Tư tưởng phản kháng, nếu có, cũng chỉ biểu hiện ở thái độ ngông nghênh, bất cần đời, không giống với chủ nghĩa yêu nước mang tính cải lương đang rất thịnh đạt lúc đó. Mà cái ngông của ông cũng chưa vươn tới tầm một nhân cách lớn, của một kẻ sĩ trước tấn tuồng cuộc đời. Nó vẫn còn mang đậm dấu ấn cá nhân và dễ thoả hiệp. Chỉ cần so sánh hai khổ thơ dưới đây chúng ta có thể hình dung được một cách rõ ràng cái ngông của kẻ mạnh và cái ngông của kẻ yếu đuối, nhu nhược đầy mặc cảm:
Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo
- Nguyễn Công Trứ.
và
Kiếp sau xin chớ làm người
Làm đôi chim Nhạn tung trời mà bay
- Tản Đà.
Thậm chí, cái ngông ở đây đã đặt một chân sang cái kiêu căng, ngạo mạn:
Nhờ văn chuốt đẹp như sao băng
Khí văn đi mạnh như mây chuyển
Êm như gió thoảng, tinh như sương,
Đầm như mưa sa, lạnh như tuyết!
Trong khoảng 25 năm hoạt động văn chương và báo chí Tản Đà đã tham gia, cộng tác với rất nhiều tờ báo. Cho đến nay người ta vẫn chưa sưu tập được hết các bài viết của ông. Sau khi Đông Dương Tạp chí bị rút giấy phép (1917), người Pháp chủ trương ra tờ Nam Phong để tiếp tục tuyên truyền cho mục tiêu khai hoá và chủ thuyết Pháp - Việt đề huề của A.Sarrants. Tản Đà có gửi một số bài cho báo này, nhờ báo giới thiệu những cuốn sách ông mới xuất bản. Không ngờ ý định của Tản Đà đã bị ông chủ bút Phạm Quỳnh chặn lại bằng hai bài Mộng hay mị và Các bài tựa tập văn xuôi Khối tình con của Tản Đà (Nam Phong 1918). Phạm Quỳnh khen Tản Đà có công góp phần làm thay đổi hình thức thơ, nhưng lại chê nội dung của chúng quá viển vông, không thiết thực, dễ lôi kéo xã hội rơi vào tâm trạng bi quan, yếm thế. Thế là ý định cộng tác với Nam Phong bất thành. Trong hơn ba năm sau đó (1918-1920) Tản Đà không trực tiếp làm cho báo nào. Ông tập trung viết sách, chỉ thỉnh thoảng mới viết bài gửi đăng báo theo đặt hàng. Mỗi khi có dịp ông ngao du sơn thuỷ để tìm cảm hứng, để thoả mãn bản tính thích đi của mình. Năm 1921, trước lời mời của nhóm Nguyễn Huy Hợi, Tản Đà đồng ý làm chủ bút cho báo Hữu Thanh (số 1 ra ngày 1.8.1921, toà soạn đặt tại 58 Hàng Bông - Hà Nội). Đây là dạng tạp chí xuất bản mỗi tháng hai kỳ. Trên danh nghĩa Hữu Thanh là “cơ quan của hội ái Hữu những người bản xứ làm công trong thương nghiệp nông nghiệp và công nghiệp ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ” nhưng thực chất tờ báo thiên về văn hoá nghệ thuật. Do bất đồng về đường lối phát triển tờ báo, Tản Đà chỉ làm cho Hữu Thanh được 6 tháng. Với quãng thời gian ngắn ngủi đó, ông đã kịp để lại ấn tượng không thể phai mờ trong lòng độc giả với những bài thơ, những bản dịch, chú giải các trước tác nổi tiếng của Việt Nam và Trung Quốc. Những người thay thế Tản Đà sau đó như Nguyễn Mạnh Hướng, Nguyễn Thượng Huyền, Đào Trinh Nhất vẫn phát triển theo đường lối cũ, biến Hữu Thanh thành một trong những tờ báo có uy tín nhất thời bấy giờ.
Trong quá trình tìm hiểu tư tưởng và ý thức chính trị của Tản Đà, các nhà nghiên cứu cũng có nhiều ý kiến khác nhau. Người thì coi Tản Đà theo khuynh hướng tư sản, có pha trộn chút ít phong kiến và tiểu tư sản (Tầm Dương, Nguyễn Kim Giang, Minh Tranh), có nhà nghiên cứu lại coi Tản Đà thuộc tầng lớp nho sĩ (Nguyễn Khắc Xương, Nguyễn Đình Chú...) Giáo sư Trần Đình Hượu xếp Tản Đà vào lớp nhà Nho tài tử cuối cùng đang bỡ ngỡ trước thế giới hiện đại... Nói chung, các ý kiến đều có lý lẽ riêng khó có thể bác bỏ được.
Thực tế, Tản Đà là một hiện tượng vô cùng phức tạp trong lịch sử làng văn làng báo nước ta. Trong ông và các sáng tác của ông luôn tồn tại một “khối mâu thuẫn lớn” - chữ dùng của Tầm Dương. Mọi tâm tư, khát vọng, dằn vặt, vui sướng, khổ đau cá nhân đều được ông thể hiện một cách rõ nét trong các tác phẩm. Việc tìm hiểu sáng tác của Tản Đà sẽ giúp chúng ta hiểu rõ số phận của ông, và ngược lại, chính những nếp sinh hoạt thường nhật của con người này nếu được nghiên cứu kỹ sẽ phần nào làm sáng rõ các nội dung tư tưởng mà tác giả đã gửi gắm trong các tác phẩm của mình. Trong hơn hai chục năm cuối đời, Tản Đà đã từng quản lý hoặc tham gia khá nhiều tờ báo. Tiêu biểu trong số này là Đông Dương Tạp chí, Hữu Thanh, Đông Pháp thời báo, Thần Chung, đó là chưa kể ông còn làm cộng tác viên cho Tiểu thuyết Thứ Bảy, Phong Hoá, Ngày nay... Điều đáng chú ý là tất cả các tờ báo trên đều của giới tư sản bản xứ. Vậy mà không có tờ báo nào trong số đó ông giữ được mối quan hệ quá 6 tháng. Việc dứt áo ra đi này liên quan rất ít đến tính cách có phần lập dị của Tản Đà. Nó chủ yếu xuất phát từ sự bất đồng về quan điểm, tư tưởng giữa Tản Đà với những chủ trương các tờ báo nói trên. Còn nói ông thuộc thế hệ nhà nho cuối cùng trung thành với ý thức hệ phong kiến e rằng chưa hoàn toàn chính xác. Tản Đà sẵn sàng từ bỏ tất cả về quê thức khuya dậy sớm tự tay sắc thuốc chăm sóc mẹ già (vợ cả của ông Nguyễn Danh Kế), trong khi cả đời ông thề không thèm nhìn mặt mẹ đẻ và em gái ruột của mình chỉ vì một lỗi lầm đáng thương hơn là đáng trách của họ. Khi được chính quyền Bảo Hộ đặc cách cho vào học trường Hậu bổ, Tản Đà đã thẳng thừng từ chối. Trước sự nhòm ngó của quan lại địa phương ông vẫn điềm nhiên tới viếng khu huyệt mộ nơi đã từng chôn cất Quang Trung Nguyễn Huệ. Nhưng ông lại hỉ hả lấy bức thư của Nguyễn Tiến Lãng khoe với bạn bè rằng sẽ gửi vào Huế cuốn sách để được Bảo Đại ban thưởng cho 500 đồng. Nuôi mộng trở thành đại trượng phu mà trước khi diễn thuyết vấn đề Đời đáng chán hay không đáng chán ông lại xui Phan Khôi vỗ tay hoan hô mình. Là một nhà nho mà ông lại mang thơ đi rao bán phố phường, tỉ mẩn hàng nửa ngày trời trước món ốc nướng, đang đêm bắt chủ nhà phải cung phụng bát tiết canh vịt, cuốc nền nhà người ta lên để trồng rau thơm, toàn những việc mà kẻ sĩ không bao giờ làm. Chính cái tính khí này của Tản Đà đã làm cho giới văn nhân ký giả đương thời không ưa ông, dù trong tâm khảm họ vẫn nể phục tài năng của ông. Lưu Trọng Lư có lần phải thốt lên “Gặp Tản Đà một bận thì thật là một điều khoái trá vô cùng, gặp ông ấy lần thứ hai, thì vẫn còn là một cái vui thích đã bắt đầu gượng gạo, và gặp đến lần thứ ba, thì là một điều khó chịu. Và lần thứ tư, thứ năm v.v.. thì xin thú thực... là một tai nạn”. Để lý giải cho nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng trên, nhà văn Vũ Bằng đã ghi lại lời của Ngô Tất Tố: “... Cái tội nặng nhất của Tản Đà là không biết sửa sai, không biết nghe lời anh em khuyên bảo. Cái số anh em thành thực khuyên ông rất hiếm, còn cái số nâng ông lên, sợ cái tài ông, mà không dám làm mếch lòng ông thì cả đống. Vì có nhiều kẻ nịnh ông một cách mù quáng như thế, ông bị hại mà không biết, mỗi ngày mỗi tự phụ thêm lên và chính tự phụ đó đã làm cho ông thành người khó chịu, khinh người, chỉ có mình là giỏi nhất, còn thiên hạ toàn thấp kém”. Rõ ràng là sự thất thường, phức tạp trong tính cách Tản Đà đã in dấu rất đậm lên các tác phẩm của ông, yếu tố thời đại ở đây tuy có nhưng rất mờ nhạt. Ông chưa hẳn là chiến sĩ cuối cùng bảo vệ ý thức hệ phong kiến, mà cũng không phải là đại diện cho giới tư sản đang lên. Ông viết về chính tư tưởng của mình và chỉ của riêng ông mà thôi. Về vấn đề này, ông Phan Khôi đã từng viết “Anh Quỳnh, anh Vĩnh chỉ viết theo sách, theo tư tưởng của Tây, chứ đến thằng cha này (Tản Đà -HVQ) hắn viết ra tư tưởng của hắn, chính hắn mới là tay sáng tạo”. Có lẽ đây mới là cái lớn nhất của Tản Đà mà lớp hậu thế chưa có đánh giá một cách đúng đắn, thoả đáng.

Bốn bể năm châu
náo cuộc đời


Sau khi rời khỏi tạp chí Hữu Thanh (1922), Tản Đà tiếp tục sự nghiệp làm thơ, viết sách. Tên tuổi ông ngày càng lẫy lừng trên văn đàn. Được sự động viên giúp đỡ của bạn bè, từ năm 1925, ông bắt tay vào chuẩn bị ra tờ báo riêng. Và ngày 1.7.1926, An Nam Tạp chí ra mắt số đầu tiên tại phố Hàng Lọng - Hà Nội. Ngay từ đầu An Nam Tạp chí xác định nhiệm vụ là “cơ quan tiến thủ của quốc dân”. Tên báo ngoài bìa được in bởi ba thứ ngôn ngữ Pháp - Hán và Quốc ngữ, sau bỏ phần tiếng Pháp.
An Nam Tạp chí ra khổ nhỏ dạng tạp chí thông thường, bìa mỗi số in một màu, giá bán lẻ 15 xu. Với số vốn ban đầu là 50 đồng (trong khi vào thời đó để ra được một tờ báo trung bình phải cần tới 300 đồng) vậy mà Tản Đà rất kỳ vọng vào tờ báo. Ông ví An Nam Tạp chí là chiếc thuyền nan, dùng để chở cái “đạo” của ông đến với bạn đọc. Ngay từ những số đầu tiên An Nam Tạp chí đã gặt hái được những thành công không nhỏ. Bạn đọc hoan nghênh và ngóng đợi từng số, nhất là độc giả trong Nam. Nhà thơ Xuân Diệu kể hồi nhỏ ông rất thích đọc An Nam Tạp chí. Ông đọc ngấu nghiến tất cả những gì Tản Đà viết. Xuân Diệu thừa nhận, tuy sau này không đi theo phương pháp sáng tác của Tản Đà nhưng thơ Tản Đà đã có những ảnh hưởng nhất định đến thơ ông. Mặc dầu nhận được sự khích lệ lớn lao như vậy, nhưng số phận của An Nam Tạp chí và của người chủ trương ra tờ báo lại diễn ra khá long đong lận đận. Trong suốt hành trình tồn tại của mình (từ 1.7.1926 đến 1.5.1933) An Nam Tạp chí đã tự đình bản rồi ra trở lại đến 6 lần. Nhà văn Ngô Tất Tố đã có lần nhận định: “Nguyên nhân làm cho tờ tạp chí ấy phải chết là rượu. Đành rằng nếu không có rượu, thì ông Tản Đà sẽ không phải là ông Tản Đà, nhưng trong khi nó làm cho ông Tản Đà thành ông Tản Đà, chính nó cũng là thủ phạm làm cho An Nam Tạp chí không có bài đưa nhà in”. Và ông Ngô Tất Tố kể thêm “Trong những cái khác người của ông Tản Đà, đức tiêu tiền cũng nên để ngang với tài thơ và tài rượu”. An Nam Tạp chí làm ăn khá có lãi. Ngoài Tản Đà ra, quản lý toà soạn chỉ có vài ba người. Vậy mà rất ít người trong số họ nhận được lương tháng. Nguyễn Công Hoan, Vũ Bằng, những người thường xuyên viết cho An Nam Tạp chí đã từng khẳng định họ chưa bao giờ nhận được tiền nhuận bút. Ngay bản thân Tản Đà đã có lần than thở với Tâm Tuyền Khách “Lương chủ bút như tôi đây cũng chỉ có mỗi ngày hai bữa rượu mà thôi”. Vậy tiền bạc chạy đi đâu hết cả? Có trời mà biết được. Nhà thơ làm quản lý thời nào chẳng thế.
Ra được 10 số (đến tháng 3.1927), An Nam Tạp chí tạm thời đình bản vì lý do tài chính. Nhà in, người cung cấp giấy, chủ nhà thay nhau thúc nợ, khiến ông chủ sự phải ngược xuôi lo toan:
Hôm qua chửa có tiền nhà
Suốt đêm thơ nghĩ chẳng ra câu nào
Đi ra rồi lại đi vào
Quẩn quanh chỉ tốn thuốc lào vì thơ.
Đang ngập chìm trong nỗi lo thì Tản Đà nhận được lời nhắn của ông Nguyễn Thành út - một điền chủ có tiếng ở Long Xuyên, chủ nhân tờ Sài Gòn Kinh tế báo - mời vào Nam cộng tác. Cuộc gặp mặt giữa hai ông không mang lại kết quả như mong muốn. Đang tính kế trở ra Bắc thì Tản Đà gặp luật sư Diệp Văn Kỳ. Hiểu rõ nỗi khó khăn An Nam Tạp chí đang gặp, Diệp Văn Kỳ đã hào hiệp đưa cho Tản Đà 1000 đồng để trang trải nợ nần. Tản Đà quay ra Hà Nội thu xếp công việc rồi lại trở vào Nam với ý định xuất bản An Nam Tạp chí tại Sài Gòn. Vì An Nam Tạp chí là tờ báo do Thống Sứ Bắc Kỳ cấp giấy phép nên Ty kiểm duyệt trong Nam không nhận kiểm duyệt. ý định không thành, Tản Đà đành đứng ra trông coi trang văn chương của Đông Pháp thời báo. Đây là tờ báo lớn thời đó do ông Nguyễn Kim Đính sáng lập, số 1 ra ngày 2.5.1923, chủ bút là ông Diệp Văn Cương, sau là Trần Huy Liệu, Bùi Thế Mĩ. Đông Pháp thời báo có khuynh hướng dân tộc và dân chủ tư sản.
Nhờ trang văn chương được chấp bút bởi hai con người nổi tiếng Tản Đà và Ngô Tất Tố mà Đông Pháp thời báo ngày càng có uy tín trong lòng bạn đọc, số lượng phát hành liên tục tăng lên. Tuy được đãi ngộ vào hàng thượng khách, Tản Đà vẫn không nguôi nỗi thương nhớ An Nam Tạp chí, đứa con tinh thần do mình rứt ruột đẻ ra. Ngập chìm trong rượu, bài vở bê trễ, có lần nhà in giục bài, ông đã đốp lại: làm thơ chứ có phải bổ củi đâu mà muốn lúc nào là có lúc ấy. Rồi, vào một ngày đầu năm 1925, vì chán cái cảnh làm thuê nơi đất khách quê người, Tản Đà lặng lẽ rời khỏi Đông Pháp thời báo trở ra Bắc.
Đầu năm 1930, Tản Đà tái bản An Nam Tạp chí, toà soạn đặt tại số 1 Francis Garnier (Nay là phố Đinh Tiên Hoàng - Hà Nội):
Năm xưa Đinh Mão ta ngơi
Năm nay Canh Ngọ ta thời lại ra.
Lần này, do quá “đơn thương độc mã” nên An Nam Tạp chí cũng chỉ ra được 3 số là lại đình bản. Sau mấy tháng chạy vạy, tháng 12.1930, Tản Đà lại cho An Nam Tạp chí “tái xuất giang hồ” lần thứ ba. Lần này toà soạn đặt tại căn nhà số 123 Rue Maréchal Foch (phố Khách) thành phố Nam Định. Nếu như mấy lần xuất bản trước Tản Đà chỉ dám ví An Nam Tạp chí như chiếc thuyền nan, thì lần này ông tự tin coi tờ báo như con thuyền sắt, sẽ vững vàng trước mọi sóng gió, thử thách:
Bốn biển năm châu náo cuộc đời,
Con tài Bản quốc chị em ơi!
Tấm thân dầm nước đã lên sắt,
Tín hiệu vang sông mới hét còi.
Vồn vã gió mưa cơn giục khách,
Mênh mông giời biển bước ra khơi.
Hỏi thăm  u Mĩ đâu bờ bến ?
Mở máy quay cuồng quá độ chơi.
Mặc dù ông chủ sự Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu tự tin như vậy nhưng lần này An Nam Tạp chí cũng chỉ ra được đến tháng 4.1931 là lại đóng cửa. Từ thời điểm này cho đến ngày đóng cửa vĩnh viễn (1.5.1933) An Nam Tạp chí còn tái bản hai lần nữa và đều đặt toà soạn ở Hà Nội. Trong những số cuối cùng Tản Đà nêu rõ lý do An Nam Tạp chí phải vĩnh biệt bạn đọc là vì nợ. Nhà thơ quẫn bách đến mức phải đăng quảng cáo nhận “chữa thơ cho thiên hạ, mỗi tháng bút phí lấy một đồng.”
Trước đây, đã có ý kiến cho rằng An Nam Tạp chí là tờ báo chuyên về văn học nghệ thuật. Nhận định trên chưa hoàn toàn chính xác. Thực chất An Nam Tạp chí là dạng tạp chí bách khoa bàn cả về lịch sử, văn hoá, chính trị, kinh tế, khoa học. Những trang cuối thường dành để thông tin những vấn đề thời sự nổi bật đang thu hút sự chú ý của dư luận trong và ngoài nước. An Nam Tạp chí thường in 30 trang, khổ báo cũng không thống nhất. Thậm chí, ngay trong một ký phát hành mà báo in khổ to nhỏ, màu giấy khác nhau. Tính định kỳ của báo cũng không được tôn trọng. Lúc đầu An Nam Tạp chí dự định ra mỗi tháng hai kỳ, sau đảo lại thành hai tháng một kỳ. Trong lần tái bản tại Nam Định, An Nam Tạp chí ghi rõ ra 4 kỳ một tháng nhưng thực tế báo chưa bao giờ thực hiện được mục tiêu đó.
Trước năm 1931, ngoài bìa An Nam Tạp chí chỉ in tên báo, những khoảng trống còn lại không có thêm tranh, ảnh minh hoạ. Từ số 17 - 2 Février 1931, báo in bản đồ Việt Nam suốt dọc khổ giấy với niềm khao khát của ông chủ sự Tản Đà là tờ báo sẽ là nhịp cầu nối liền 3 kỳ Bắc - Trung - Nam:
Nọ bức dư đồ thử đứng coi,
Sông sông, núi núi khéo bia cười.
Biết bao lúc mới công vờn vẽ,
Sao đến bây giờ rách tả tơi?
Hay trước ông cha mua để lại
Mà sau con cháu lấy làm chơi
Thôi thôi có trách chi đàn trẻ
Thôi để rồi ta sẽ liệu bồi.
Việc làm này của ông Tản Đà đã có tác động xã hội rất lớn, gây được thiện cảm của đông đảo đồng nghiệp và bạn đọc. Thư từ khắp nơi tới tấp gửi về toà soạn. Có những bài viết rất xúc động tiêu biểu cho tình cảm của quảng đại quần chúng nhân dân lúc đó:
Đây bức dư đồ nước Việt ta!
Ba kỳ chung một dải quan hà,
Non sông còn đó non sông cũ,
Đất nước y nguyên đất nước nhà
Đen đỏ vẽ vời bao nét bút,
Trắng vàng pha lẫn mấy màu da.
Trên bìa tạp chí in mà để,
Giữ lấy ai ơi kẻo nữa nhoà.
Lương Hồ - Nguyễn Trung Khuyến.
Và bức bản đồ Việt Nam đã gắn liền với An Nam Tạp chí đến tận số cuối cùng.
Có thể nói, vào thời đó, bạn đọc mua An Nam Tạp chí vì thích đọc những mục do Tản Đà đứng tên hoặc có tham gia viết như Hài đàm, Nhàn tưởng, Thi đàn giảng tập, Hán văn diễn giảng, Việt Nam nhị thập thế kỷ, Nữ giới tùng đàm, Hài văn, Dịch cổ văn, Xã hội ba đào ký... Đó là chưa kể những trang văn học chuyên đăng truyện ngắn, kịch nói, ký của Nguyễn Công Hoan, Vũ Bằng, Trần Khánh Giư, truyện dịch văn học nước ngoài. Dù được thể hiện bởi nhiều giọng văn, hình thức thể loại khác nhau, nhưng nội dung của An Nam Tạp chí chủ yếu tập trung ở mấy vấn đề lớn: phê phán các thói hư tật xấu trong dân gian, răn dạy đạo đức nhằm giáo hoá thế tục, ca ngợi truyền thống văn hoá, truyền thống chống ngoại xâm, xây dựng đất nước của tổ tiên, góp phần bảo tồn và truyền bá những cái tốt đẹp trong lịch sử của cha ông để lại, giới thiệu những thành tựu văn hoá - nghệ thuật - khoa học - công nghệ của thế giới, mở mang dân trí cộng đồng... Mặc dù trong mục Hài đàm đã có lần Tản Đà khuyên dân chúng chỉ nên đọc tạp chí, không nên đọc báo vì báo chỉ viết toàn những điều nhảm nhí, nhưng thực tế An Nam Tạp chí càng về sau càng hay sử dụng những thể loại vốn là thế mạnh của báo như Tin, Thời luận, Ký (có hơi hướng phóng sự). Điều khác biệt ở đây là các tin tức thời sự có trong An Nam Tạp chí bao giờ cũng đi kèm với lời bình. Những lời bàn bạc mang dấu ấn chủ quan này nhiều khi chiếm dung lượng lớn lấn át nội dung tin tức, gắn liền với quan điểm tác giả, quan điểm tờ báo, mà cụ thể là quan điểm của Tản Đà.
Với những gì phân tích ở trên, chúng ta có thể phần nào hiểu được thiện ý tốt đẹp của những người chủ trương An Nam Tạp chí. Tuy nhiên, do những hạn chế về mặt lịch sử nên những quan điểm của ông không theo kịp đà tiến của xã hội, thậm chí đôi khi còn bảo thủ, trì trệ mang đậm dấu ấn của lề thói, đạo đức phong kiến. Chứng kiến cảnh tờ Phụ Nữ tân văn (xuất bản tại Sài Gòn, do bà Nguyễn Đức Nhuận sáng lập) luôn tìm cách đấu tranh đòi bình quyền cho nữ giới theo quan điểm dân chủ tư sản phương Tây, Tản Đà đã có mấy câu thơ:
Có ai ở Bắc vào Nam
Cho ta nhắn nhủ chị em biết mà
Phấn son tô điểm sơn hà
Chữ “Trinh” giữ đạo đàn bà nước Nam.
Chữ Trinh ở đây dường như chỉ mang ý nghĩa cơ thể học. Nó đối lập với quan điểm của Phan Khôi coi người đàn bà đã có chồng vẫn được coi là còn trinh tiết nếu như người đó giữ được phẩm giá làm người của mình. Tản Đà cũng đã từng đòi đánh Phan Khôi 300 roi vì tội danh giáo, tội bài cựu nghênh tân của ông này: Đánh ở Quốc Tử Giám 100 roi, ở Huế 100 roi, ở Quảng Nam 100 roi, chi phí áp giải Phan Khôi do báo Phụ nữ tân văn trả.
Không chỉ trên mặt báo, trong thực tế cuộc sống Tản Đà cũng rất phong kiến, gia trưởng. Nghe tin vợ đẻ con gái, ông không thăm hỏi một câu, còn cấm vợ dắt con gái đến trước mặt mình. Khi gia cảnh sa sút, ông thà chịu cơ cực chứ nhất định không để vợ ra ngoài buôn bán. Và trong các bài báo của ông, phụ nữ hay bị ông chế giễu, phê phán nhất. Chẳng hạn, trong An Nam Tạp chí số 16, ông có bài Một vấn đề tu thân của đàn bà con gái, có đoạn: Đàn bà rộng miệng thì nỏ mồm. Muốn sửa cái tật đó thì khâu mép lại, vừa xinh vừa đỡ lắm điều... Bất lực trước hiện thực, cũng có lúc Tản Đà chợt nhận thấy quan điểm sống của mình không còn hợp thời. Ông oán trách và tự ví mình là kẻ hủ nho:
Lo đời chưa đã lại lo đông.
Lo mãi! Cho mình hủ chẳng xong!
Mặt nước khói tan, chim vía cá.
Đầu non sương phủ, dạn thân tùng.
Trăm năm tính cuộc còn man mác,
Bốn bể thương ai luống lạnh lùng
Ngày ngắn, đêm dài, đêm lại sáng
Đêm qua ai có bạc đầu không?
Hủ nho lo mùa đông
Kể từ khi An Nam Tạp chí đóng cửa, Tản Đà không còn thiết tha lắm với các hoạt động báo chí - văn học nghệ thuật nữa. Ông về ở ẩn tại một ngôi nhà tồi tàn nằm trên đường Ngã Tư Sở, mở tiệm xem tướng số Hà Lạc. Thỉnh thoảng ông vẫn gửi bài cho báo Phong Hoá, Ngày nay (của nhóm Tự lực Văn đoàn), Tiểu thuyết thứ bảy (của Vũ Đình Long), báo Thanh-Nghệ-Tĩnh (Vinh), các báo Sống, ích hữu (Sài Gòn), nhưng các bài viết này không còn mang giá trị nghệ thuật lớn như trước. Dường như chúng được viết ra chỉ để giải quyết nỗi bí bách của cuộc sống. Vậy mà trước một nhà thơ thất thế, Phong Hoá, Ngày nay còn đem Tản Đà ra châm biếm, đả kích, nhằm vùi dập tiếng tăm của ông. Và, vào một ngày đầu hè oi ả năm 1939, sự cô đơn, sự thiếu thốn đến tuyệt vọng, sự điêu trá của người đời đã kéo Tản Đà sang thế giới bên kia, thế giới mới ông vẫn hằng mong đợi bấy lâu nay. Hình như cái chết đầy tức tưởi của ông đã làm cho người đời tỉnh ngộ. Họ hối hận và bắt đầu nói về ông một cách thành kính. Và cho đến nay, sự thành kính này vẫn không hề thuyên giảm

Đâu cũng là nhà - đâu cũng là quê hương

Bất kỳ ai khi tới Minh Hải (nay đã tách thành 2 tỉnh Cà Mau - Bạc Liêu) đều không khỏi lấy làm ngạc nhiên khi đi tới đâu họ cũng nghe thấy cái tên Phan Ngọc Hiển. Từ người già, trẻ em, anh xe ôm tới tay bợm nhậu, dù đang “biêng biêng”, nhưng hễ nghe nhắc tới Phan Ngọc Hiển là thái độ trở nên khác hẳn. Sự thành kính, trân trọng hiện lên trên từng nét mặt. Đã từ rất lâu người dân nơi đây coi Phan Ngọc Hiển như người thân, ruột rà, là hình mẫu lý tưởng để họ noi theo. Tên ông đã từng được đặt cho một huyện thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Giờ cái tên này gắn liền với hàng chục địa danh ở Cà Mau, Bạc Liêu. Nào là huyện Phan Ngọc Hiển, xã Phan Ngọc Hiển, đại lộ Phan Ngọc Hiển, trường Phan Ngọc Hiển... Cuộc đời nhà báo, nhà văn, nhà giáo, nhà cách mạng Phan Ngọc Hiển đã được nhà thơ Nguyễn Bá khắc hoạ khá rõ nét trong bản trường ca Hòn Khoai, được nhà điêu khắc Phước Sanh thể hiện qua hình tượng cánh buồm tượng trưng cho khát vọng tự do, được nghệ sĩ Trọng Nguyễn xây dựng thành vở cải lương Bóng biển nổi tiếng đã từng làm bao thế hệ khán giả khi xem phải rơi lệ. Vậy Phan Ngọc Hiển là ai mà gắn bó máu thịt với hàng triệu người dân nơi đây. Sự nghiệp hoạt động cách mạng của ông đã để lại những gì cho các thế hệ mai sau?
Phan Ngọc Hiển sinh năm 1910 tại thị xã Cần Thơ (nay là thành phố Cần Thơ) trong một gia đình nghèo. Vừa mới lên 10, ông đã mồ côi mẹ. Không muốn đứa con nhỏ dại phải rơi vào cảnh tăm tối, người cha đã cố công làm lụng vất vả để nuôi dạy Phan Ngọc Hiển nên người. Trong số mấy anh chị em, ông là người được ăn học đến nơi đến chốn nhất. Sau khi rời trường tỉnh, Phan Ngọc Hiển lên Sài Gòn theo học tại trường trung học sư phạm với hy vọng trở thành thày giáo đem lại ánh sáng cho đời. Không như bao kẻ “an phận thủ thường” cốt lấy tấm bằng để kiếm miếng cơm manh áo, Phan Ngọc Hiển tuy vẫn cố gắng học tập để khỏi phụ công nuôi dưỡng của người thân, nhưng trong tận đáy sâu tâm khảm, ông vẫn ngầm nuôi một chí trai lớn. Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918) tình hình chính trị - xã hội nước ta có nhiều diễn biến phức tạp. Các hội, đoàn thể, đảng phái yêu nước manh nha xuất hiện thu hút đông đảo quần chúng nhân dân lao động đứng lên đấu tranh với bất công xã hội. Những bài viết nảy lửa của Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường, Trần Huy Liệu trên các tờ Chuông rè (La Cloch fêlée), An Nam (le Annam), Đông Pháp thời báo đã có những tác động mạnh mẽ đến nhận thức, tư tưởng tầng lớp thanh niên. Các sự kiện gây chấn động dư luận trong nước và quốc tế lúc đó như phong trào đòi thả hai ông Phan Bội Châu (1925), Nguyễn An Ninh (1926), đặc biệt là đám tang cụ Phan Chu Trinh kéo dài gần một năm trời với khẩu hiệu “Truy điệu Tây Hồ nhật hoán tỉnh quốc dân hồn” báo hiệu cơn bão cách mạng đang đến gần. Người dân Nam Kỳ nói riêng, dân tộc Việt Nam nói chung không còn cam chịu thân phận nô lệ nữa. Họ đang tìm cách đứng lên đòi lại quyền sống cho mình. Không khí này không làm cho Phan Ngọc Hiển - chàng trai tỉnh lẻ vừa đặt chân lên đất Sài Gòn hoa lệ - bỡ ngỡ. Ngược lại, ông có cảm giác nơi đây mới thực là môi trường phù hợp để ông vùng vẫy, để thực hiện mọi khát khao, ước vọng của mình. Tham gia phong trào học sinh - sinh viên, ông luôn sát cánh cùng bạn bè xuống đường đấu tranh đòi nhà cầm quyền thực hiện cải cách xã hội. Nhận thấy mối nguy hiểm mà chàng thanh niên chưa đầy 20 tuổi này có thể đem lại, Ban Giám hiệu trường Trung học Sư phạm Sài Gòn đã nhiều lần cho gọi Phan Ngọc Hiển lên đe doạ, cảnh cáo nhưng không hiệu quả. Cuối cùng, nhà trường phải áp dụng hình thức đình chỉ học tập 1 năm đối với ông. Những biện pháp có tính răn đe này không làm lung lay lý tưởng cách mạng của Phan Ngọc Hiển. Khi trở lại Sài Gòn, ông tiếp tục lao vào trường hoạt động, đến năm 1931, Phan Ngọc Hiển mới chính thức tốt nghiệp.
Sẵn có tên trong “sổ đen” nên Phan Ngọc Hiển “được” phân công về dạy học tại Rạch Gốc, mảnh đất chót cùng của tỉnh Cà Mau. Rừng thiêng nước độc, muỗi mòng, đói khát, bệnh tật không làm nhụt ý chí của chàng trai vừa bước qua tuổi 20. Vừa tới Rạch Gốc, Phan Ngọc Hiển đã vận động bà con đóng góp xây dựng trường lớp khang trang, kêu gọi mọi người thực hiện nếp sống có vệ sinh, tạo điều kiện cho con em học tập, tự ông đứng ra lập hội ca nhạc, đội bóng đá để tập hợp, tuyên truyền tinh thần yêu nước cho thanh niên. Đối với số tiền lương giáo viên nhà nước cấp, Phan Ngọc Hiển dùng để mua sách vở cho học sinh hoặc giúp đỡ những người khốn khó. Để duy trì cuộc sống, ông thường xuyên cùng người dân nơi đây vào rừng đốn củi, đốt than, theo thuyền ra biển đánh cá, chèo ghe đi bán ba khía, ốc len... Nhiều người ái ngại cho nhà giáo trẻ vừa rời thành phố, chưa quen với đời sống khổ cực ở thôn quê, Phan Ngọc Hiển đã đáp lại tình cảm đó bằng một câu hết sức giản dị, chân thành “Cô bác ở đây sống được thì con cũng sống được chứ gì”. Nhờ biết hoà mình vào đời sống lam lũ, biết thông cảm, chia sẻ, đùm bọc những ai đang gặp khó khăn, hoạn nạn, Phan Ngọc Hiển ngày càng được nhân dân địa phương yêu thương, kính trọng. Tiếng lành đồn xa, lớp của ông thu hút được rất đông người đến học. Ngoài việc truyền đạt kiến thức, lễ nghĩa thông thường, Phan Ngọc Hiển luôn tìm cách đưa vào chương trình giáo dục lịch sử những kinh nghiệm khơi gợi lòng yêu nước, đề cao truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm của ông cha. Những việc làm của ông không thoát khỏi sự theo dõi sát sao của nhà cầm quyền. Sau vụ quần chúng nhân dân địa phương biểu tình đấu tranh đòi giảm thuế, tố cáo sự ức hiếp, nhũng lạm của đám hội tề (1935), bọn mật thám đã bắt Phan Ngọc Hiển với tội danh cầm đầu vụ nổi loạn. Trước sự đối đáp cứng cỏi, có tình có lý, hơn nữa, cũng không đủ chứng cứ, nên cuối cùng chúng buộc phải thả ông nhưng cấm ông không được dạy học tiếp. Không còn lệ thuộc vào đời công chức, Phan Ngọc Hiển ngao du khắp Nam Bộ, tìm cách bắt liên lạc với những người theo chủ nghĩa cộng sản. Tổ chức thấy Phan Ngọc Hiển rất am hiểu vùng đất Cà Mau nên đã cử ông về đây cùng cán bộ, đảng viên địa phương gây dựng phong trào và coi đây như là môi trường rèn luyện, thử thách một chiến sĩ cách mạng trẻ đầy triển vọng. Chỉ với thời gian rất ngắn, Phan Ngọc Hiển đã khẳng định được nhân cách của mình. Đầu năm 1936, ông chính thức trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, nhanh chóng trở thành cán bộ cốt cán của chi bộ đảng địa phương. Chỉ trong quãng thời gian gần một năm, Phan Ngọc Hiển cùng các đồng chí của mình kết nạp nhiều thanh niên tốt vào hàng ngũ của Đảng, xây dựng lực lượng nòng cốt cho những cuộc đấu tranh cách mạng đầy cam go sau này.
Cuối năm 1936, trước nguy cơ nạn đói lan tràn, huyện uỷ Cà Mau đã tổ chức một cuộc biểu tình lớn với sự tham gia của toàn bộ nhân dân các xã đấu tranh đòi giảm thuế, cứu đói, đòi trừng trị bọn sâu mọt đục khoét của dân. Diễn biến của cuộc biểu tình rất phức tạp dễ lây lan sang các huyện lân cận. Chính quyền thực dân đã ra lệnh bắt Phan Ngọc Hiển và một số đồng chí mà họ cho là đã tổ chức, cầm đầu cuộc biểu tình. Trước sức đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân bên ngoài và của các đồng chí đang bị giam tại nhà tù Bạc Liêu, cuối cùng, người Pháp buộc phải thả Phan Ngọc Hiển nhưng cho mật thám theo dõi ông hết sức gắt gao. Để tránh tổn thất không cần thiết, xứ uỷ Nam Kỳ điều động Phan Ngọc Hiển về Sài Gòn làm biên tập cho tờ Lao động - Cơ quan bênh vực quyền lợi giai cấp cần lao của xứ uỷ Nam Kỳ, người quản lý là Nguyễn Thành A. Đến cuối năm 1938, tình hình thế giới có nhiều biến động phức tạp. Chiến tranh thế giới lần thứ II chuẩn bị nổ ra. Phe cực hữu lên cầm quyền ở Pháp, đàn áp dữ dội những người cộng sản và các đảng phái theo xu hướng dân chủ - xã hội. Tình trạng bắt bớ những nhà cách mạng Việt Nam cũng bắt đầu được tiến hành. Trước thực tế này, Đảng ta chủ trương chuẩn bị rút vào hoạt động bí mật, phân tán lực lượng. Nhiều đảng viên đi về nông thôn, Phan Ngọc Hiển trở lại Rạch Gốc lãnh đạo chi bộ đảng ở đây, cùng các đồng chí tổ chức, xây dựng chi bộ Hòn Khoai... Đến đầu những năm 40 của thế kỷ 20, Nhật vào Đông Dương, dân tộc ta phải chịu cảnh một cổ hai tròng. Đây cũng là lúc cuộc chiến tranh Pháp - Thái nổ ra. Xứ uỷ Nam Kỳ nhận thấy phong trào cách mạng của quần chúng đang lên, là cơ hội thuận lợi để tiến hành khởi nghĩa. Khoảng giữa năm 1940, lệnh khởi nghĩa được gửi đến hầu khắp các địa bàn trọng điểm của Nam Kỳ, trong đó có Cà Mau mà địa điểm Hòn Khoai do Phan Ngọc Hiển xây dựng cơ sở từ lâu là nơi mở màn cho việc cướp chính quyền. Nhận được báo cáo của xứ uỷ Nam kỳ, Ban chấp hành Trung ương đảng ta gấp rút tiến hành một số cuộc họp, cuối cùng ra chỉ thị ngừng ngay cuộc khởi nghĩa lại. Thất bại của cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn cho thấy, lực lượng của ta chưa đủ mạnh, thời cơ tiến hành khởi nghĩa chưa chín muồi. Đồng chí Phan Đăng Lưu mang bản chỉ thị này về đến Sài Gòn thì bị bắt. Kế hoạch khởi nghĩa bị bại lộ, chỉ thị ngừng khởi nghĩa không đến được nhiều nơi. Đêm ngày 13.12.1940 Phan Ngọc Hiển cùng các đồng đội tiến hành cướp đảo, giết chết tên sếp đảng Ôlivie, sau đó dùng thuyền vượt biển về phối hợp với lực lượng trên đất liền cướp chính quyền. Không liên lạc được với Tỉnh uỷ, Phan Ngọc Hiển chỉ huy anh em đánh chiếm đồn kiểm lâm Tân Ân, sau đó cùng bà con Rạch Gốc chạy vào rừng để bảo tồn lực lượng, tránh sự khủng bố của kẻ thù. Rừng đước rậm rạp đầy muỗi vắt, đâu đâu cũng là đầm lầy nước mặn. Cái đói, cái khát, sự mệt mỏi sau hơn 6 ngày vượt sông, vượt rừng đã hút tàn sức lực mọi người. Phan Ngọc Hiển và một số đồng chí rơi vào tay giặc, trong đó có Thường vụ tỉnh uỷ Quách Văn Phẩm.

Cơn quốc loạn ai là hồn nghĩa sĩ

Từ những năm 1935 - 1936 chính phủ cánh tả tại Pháp bước đầu thực hiện một số cải cách xã hội đối với thuộc địa. Người của Mặt trận Bình dân được cử đi khắp nơi để điều tra tình hình. Trước tình hình đó, Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương quyết định tạm gác khẩu hiệu độc lập dân tộc, chú trọng đấu tranh đòi các quyền tự do dân chủ, cải thiện đời sống nhân dân., nhằm vào kẻ thù trước mắt là bọn phản động thuộc địa và tay sai, vào chủ nghĩa phát xít. Đảng chủ trương thành lập Mặt trận Dân chủ, thông qua các nhân sĩ, trí thức ngoài đảng đứng ra tổ chức Đông dương đại hội, lập Hội truyền bá chữ quốc ngữ. Một số chính trị phạm được tha trước kỳ hạn ra tranh cử vào Viện Dân biểu, đẩy mạnh hình thức đấu tranh nghị trường, dùng báo chí để vạch trần bọn Trôtkit...
Thực hiện chủ trương trên của Đảng, tỉnh uỷ Sa Đéc đã bí mật hỗ trợ cho tờ Tân Tiến (Giám đốc Lê Quang Trịnh, quản lý Hồ Văn Sao, sau là Trương Vĩnh Ny, lúc đầu ở Sa đéc sau chuyển về Sài Gòn). Đây là một trong những từ báo cách mạng lớn của cả dải đất Nam Bộ. Ngay từ, những ngày đầu, Phan Ngọc Hiển (với bút danh Phan Phan) đã là phóng viên trụ cột của tờ báo này. Hiện nay, chính quyền địa phương Cà Mau - Bạc Liêu đã sưu tầm được 70 bài báo của Phan Ngọc Hiển viết cho Tân Tiến. Sự nghiệp làm báo của ông chắc chắn không chỉ dừng lại ở con số này. Đọc những bài viết của Phan Ngọc Hiển trên báo Tân Tiến, ai cũng có thể nhận thấy đây là một cây bút có nghề, từng trải, có kinh nghiệm và vốn sống dồi dào, quan điểm, tư tưởng được thể hiện đầy bản lĩnh. Điều này cho thấy, khi còn theo học ở trường Trung học Sư phạm, Phan Ngọc Hiển đã viết cho báo chí Sài Gòn đương thời. Đáng tiếc là, cũng như hầu hết các nhà yêu nước, cách mạng lúc đó, Phan Ngọc Hiển phải thường xuyên sử dụng bút danh, nên đã gây ra rất nhiều khó khăn cho những ai quan tâm nghiên cứu về sự nghiệp hoạt động báo chí của ông. Qua 70 bài viết, Phan Ngọc Hiển đã bộc lộ rõ là một cây bút đa tài, sử dụng khá nhuần nhuyễn các thể loại xã thuyết (xã luận), phóng sự, điều tra, phỏng vấn, tường thuật, ký sự, tuỳ bút, thơ, truyện ngắn, truyện dài kỳ. Tuỳ theo từng đối tượng, đề tài mà ông có thể dùng riêng rẽ hay kết hợp một cách uyển chuyển hai hay ba thể loại trong một bài viết. Đây chính là cái tạo nên phong cách Phan Ngọc Hiển, tạo điều kiện để ông mở rộng phạm vi phản ánh , dễ hấp dẫn, lôi cuốn độc giả. Tuy nhiên, theo đánh giá của một số người, thế mạnh của Phan Ngọc Hiển tập trung ở các thể loại điều tra. Không phải ngẫu nhiên mà ông Hồ Văn Sao đã tin tưởng giao nhiệm vụ cho Phan Ngọc Hiển đi khắp Nam Kỳ để nắm tình hình dân chúng tại các vùng thôn quê hẻo lánh. Chính nhờ chuyến đi này mà ông viết được những bài viết gây xôn xao dư luận lúc đó như Vào quê, Về vụ kiểm lâm Cà Mau, Vấn đề độc quyền nước mắm, Nhà thương... trong các bài điều tra này, tác giả bao giờ cũng đặt mình ở ngôi thứ nhất, là người chứng kiến hoặc thậm chí là người trong cuộc. Đây là điều kiện tốt nhất để người viết trực tiếp bộc lộ chính kiến riêng, dễ sử dụng thế mạnh của ngôn ngữ biểu cảm. Qua đây, người đọc có thể cảm nhận được ngay thái độ của Phan Ngọc Hiển đối với thời cuộc. Sự đồng cảm, xót xa của ông luôn dành cho người nghèo, tầng lớp dưới đáy trong xã hội. Phan Ngọc Hiển coi việc mở mang dân trí như một cứu cánh để thoát khỏi lầm than, đói nghèo. Để chống lại chính sách ngu dân của người Pháp, mơ ước cháy bỏng của ông là lập được ở mỗi làng một thư viện bình dân. Ông viết: “ở thôn quê cái lệ cúng thần này thần nọ hết chẳng biết bao nhiêu tiền của - cúng rồi, dân chẳng đặng mở mang gì ráo, chỉ dọn ra rượu thịt ê hề cho mấy ông no say đặng quên pháp luật, đặng xưng chúa tể thôn quê! Tôi cho là vô ích... Nhiều ông giàu có trong đôi ba ngày xài cả bạc ngàn. Như trong hội chợ nào đây có ông nọ dám chịu 500 bạc mướn một hội thổi kèn. Cái danh ấy là hư danh! Phải chi ngài để số tiền ấy xin chánh phủ cho phép lập một bình dân thơ viện trong làng thì quý biết chừng nào...”. - Bài Người thương nước nên mở mang dân trí. Ngoài tầng lớp lao động ra, Phan Ngọc Hiển quan tâm đặc biệt đối tượng thanh niên, luôn coi họ là lực lượng chính đưa đất nước thoát khỏi vòng nô lệ: “Thanh niên là một đám người có hồn, có chí, có lực... Làm thanh niên là làm cái sườn chống chỏi giông tạt, gió đùa, cho khỏi nhà xiêu cửa ngã. Làm thanh niên là làm những bức tường cao bảo tồn sự nghiệp tổ tiên để lại”. Phan Ngọc Hiển luôn khuyến khích thanh niên “Bước tới, bước tới, bước mau tới ánh sáng”. Con đường đến với ánh sáng ở đây là “học thầy, tự học, học bạn”. Thứ lý tưởng mà Phan Ngọc Hiển xác định cho thanh niên lúc này là học vấn, kiến thức chứ không phải con đường cách mạng mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã mở lối từ những năm 1930. Nói chung hạn chế lớn nhất trong các bài viết của Phan Ngọc Hiển là mới chỉ đấu tranh đòi cải cách xã hội, chưa đặt ra vấn đề đấu tranh xoá bỏ hiện thực, xây dựng một chế độ mới. Đây cũng là hạn chế của hầu hết các tờ báo cách mạng đương thời.
Tân tiến ra đời, phát triển đúng vào dịp Đông Dương đại hội đang được ráo riết chuẩn bị ở khắp Nam Kỳ. Chính vì vậy mà số bài viết của Phan Ngọc Hiển dành cho phong trào này chiếm một lượng không nhỏ. Tuy nhiên không như một số người mắc chứng ảo tưởng, quá kỳ vọng vào phái đoàn điều tra của Mặt trận Bình dân, Phan Ngọc Hiển có cái nhìn tỉnh táo, thực tế hơn “Điều cần nhứt chúng ta đừng quá ỷ lại vào người mà trái lại phải tin ở sức ta trước đã. Ta không chỉ vết thương, Đốc-Tờ biết để thuốc vào đâu? Ta không tranh đấu, bọn này đâu nhờ đến bàn tay sắt bóp chặt của nó” - Bài Mặt trận Bình dân. Qua các nội dung Một bài tâm huyết kính dâng ông Justin Godart và Bài tâm huyết kính dâng cho quan Tổng trưởng Moutet và quan Toàn quyền Brévié, Phan Ngọc Hiển yêu cầu các nhân vật quyền thế này nên sâu sát hơn với nội tình của dân bản xứ, chớ nên tin vào những con số do chính quyền thuộc địa cung cấp. Nhân dịp này Phan Ngọc Hiển còn viết một loạt bài tố cáo tội ác cũng như các chính sách cai trị hà khắc của bọn phản động Pháp đối với Đông Dương. Ông coi “lạm quyền phải là hột giống của phiến loạn. Lạm quyền đồng tội với phiến loạn”. Ông đặt câu hỏi “Ai lạm quyền?” rồi lại tự trả lời “Chỉ có người được chính phủ giao quyền”. Trên cơ sở này, Phan Ngọc Hiển quy trách nhiệm cho chính phủ về tình trạng lạm quyền tràn lan khắp nơi, nhất là nông thôn, coi đây là nguyên nhân thúc đẩy dân chúng làm loạn. Để khắc phục tình trạng này, theo ông, cần “Mở rộng quyền cử tri”. Một biện pháp quá ngây thơ, ấu trĩ, nhưng lại phù hợp với tình hình lúc đó. Ngoài nội dung trên, Phan Ngọc Hiển còn đi sâu vào tìm hiểu tệ lậu của ngành y tế (Bài Nhà thương), về sự lộng hành của các ông vua rừng (Bài Về vụ kiểm lâm Cà Mau), đòi xoá bỏ chế độ giam giữ tù chính trị (bài Chúng tôi cũng ước mong ân xá chính trị phạm), phê phán đám dân biểu “giá áo túi cơm” (bài Tôi hỏi ông Bùi Quang Chiêu), lên án chính sách độc quyền (bài Vấn đề độc quyền nước mắm)... Có thể nói các bài viết của Phan Ngọc Hiển luôn có giá trị thực tiễn, thời sự. Vấn đề ông đặt ra tuy có vẻ cụ thể nhưng thực chất chúng lại mang tính khái quát, điển hình khá cao, luôn mới đối với mọi chế độ chính trị xã hội khác nhau.
Cũng như bao thanh niên có chí hướng khác, Phan Ngọc Hiển quyết tâm dành trọn đời mình cho cách mạng, cho quần chúng lao khổ. Ông biết gạt đi những gì riêng tư để toàn tâm toàn ý với lẽ sống chung. Trong bước đường hoạt động của mình, trái tim ông đã nhiều lần rộn rã, khắc khoải trước những bóng hồng. Nhưng rồi, ông phải chôn chặt kỷ niệm để đi theo tiếng gọi của hồn thiêng sông núi. Hoá thân vào nhân vật Quỳ (bài Mẹ hay chàng) Phan Ngọc Hiển nói rõ lòng mình: “Em, anh quyên sinh vì nước, em hy sanh vì tình mới đáng người chung thuỷ. Lúc thái bình chúng ta là bạn văn chương... Cơn quốc loạn ai là hồn nghĩa sĩ. Anh đã thường nói với em rằng “Anh yêu em chỉ trông ngày nhờ nụ cười của em mà gánh nỗi non sông, đoạt đặng cả mối hy vọng cao trọng. Bây giờ ngày đó đã đến vậy.” Giọt lệ giai nhân không làm chùn bước tráng sĩ, Phan Ngọc Hiển quan niệm về tình yêu và lý tưởng hết sức rõ ràng. Dưới đây chỉ có thể là tình yêu và lý tưởng của người cộng sản:
“Anh không thể nào lưu luyến với em mãi
Em yêu anh sao bằng hai mươi lăm triệu đồng bào,
Nếu ngày nào đời anh là đời đau khổ!
Một mình em không thể an ủi được lòng anh!
Thôi đi, em có yêu anh, hãy trông vào Tổ quốc
Em có nhớ em hãy ngó lại đồng bào!...”
Sau gần 7 tháng giam cầm, xét xử, ngày 12.7.1941, Thực dân Pháp đưa Phan Ngọc Hiển và 9 đồng chí có liên quan đến cuộc khởi nghĩa Hòn Khoai ra xử bắn tại sân vận động thị xã Cà Mau trước sự chứng kiến của hàng ngàn người dân. Không biết trong đám đông đó có cô Hương, cô Cúc, cô Hường, những người đã từng thề non hẹn biển với Phan Ngọc Hiển qua các trang viết của ông hay không. Ai? Ai là người trong số họ đã nhỏ những giọt nước muộn màng khi ông ngã xuống? Trước cái chết điều đó đâu còn quan trọng nữa, chỉ chắc chắn là hình ảnh Phan Ngọc Hiển sẽ khắc dấu mãi mãi trong trái tim người dân nơi đây. Ông sẽ là ngọn hải đăng không bao giờ tắt của cả vùng biển nghèo khó nơi tận cùng của Tổ quốc nàyr

Trần Cư: Tóc trắng chưa thôi trả nợ đời


Mặc dù đã gần chục năm trôi qua, nhưng các thủ thư của Thư viện Quân đội Trung ương nằm trên đường Lý Nam Đế vẫn còn nhớ hình ảnh một ông lão có mớ tóc dài, bạc trắng, ăn mặc giản dị, ngồi lặng lẽ ở một góc khiêm tốn trong phòng đọc báo, ngón tay dài, gầy guộc, run rẩy lần giở từng trang tờ Quân đội nhân dân, mắt không bỏ sót một chữ. Thỉnh thoảng ông mới ngẩng đầu lên, mắt dõi xa xăm, vô định, như đang hồi tưởng về một quá khứ hào hùng lắm, đẹp đẽ lắm. Ai đi qua chỗ ông ngồi cũng cố gắng nhẹ bước chân. Họ không muốn làm kinh động đến người lính già, một nhà báo - chiến sỹ mà tên tuổi đã được bao thế hệ ngưỡng mộ. Đó là Trần Cư, người đã cùng với ngòi bút của mình đi suốt dọc hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc.
Bâng khuâng nên nỗi hồn lưu lạc
Trần Cư tên thật là Trần Ngọc Cư sinh ngày 3.4.1918 tại Huê Lăng-Thuỷ Nguyên-Hải Phòng, nhưng quê gốc lại là làng Bát Tràng (Gia Lâm-Hà Nội). Ông có cả thảy 7 anh chị em nhưng 3 người trong số đó mất sớm. Trần Cư là anh cả, và cũng là người được ăn học đến nơi đến chốn nhất.
Sau khi tốt nghiệp tiểu học CEPFI, Trần Cư thi đậu bằng Thành chung. Trải qua 4 năm ăn học vất vả, Trần Cư tốt nghiệp cao đẳng tiểu học và thi trúng tuyển vào trường bảo hộ học bậc tú tài trường Bưởi. Để có tiền cho con ăn học, bố ông đã phải ra Cái Lân-Hòn Gai làm thuê. Căn nhà mặt phố Cầu Đất-Hải Phòng đem cho thuê, mẹ và các em ông phải đi ở nhờ nhà họ hàng. Với bao nỗ lực của bản thân và gia đình, Trần Cư lấy được tấm bằng tú tài triết học phần một (năm 1938). Không muốn là gánh nặng thêm cho người thân, ông quyết định thi vào ngành bưu điện Đông Dương, đi làm lấy tiền phụ giúp gia đình, đồng thời học nốt phần hai. Năm 1941, Trần Cư mới hoàn thành chương trình tú tài toàn phần tại Phnom-pênh. Sống xa gia đình, bạn bè, cuộc đời của viên thư kí bưu điện ở Kom-phom-chan (Cam-pu-chia) thật tẻ nhạt. Ông quyết định xin thôi việc trở về nước, xin dạy môn văn cho trường tư thục Lê Lợi (Hải Phòng).
Công việc của một anh giáo cũng chẳng vui vẻ gì. Vật chất có thể đủ đầy hơn, nhưng đời sống tinh thần cứ ngày một teo tóp đi. Bao khát vọng của tuổi đôi mươi giờ bị chôn chặt trong bốn bức tường. Chỉ có tiếng ê a của lũ trẻ mới cho Trần Cư cảm giác mình đang tồn tại. Làm gì để thoát khỏi cái thế giới ngục tù này? Câu hỏi khó có lời giải đó cứ dai dẳng, đeo đẳng từng bước ông đi, theo ông vào những giấc ngủ đầy mộng mị. Cứ vào dịp cuối tuần, Trần Cư lại đạp xe ra ngoại ô, ở đó có bờ đê, có cánh đồng trải dài tới tận chân trời, có dòng sông cuộn chảy để ông thả hồn vào những suy tư. Biết làm gì bây giờ khi mà cả thế giới đang hỗn loạn vì chiến tranh. Máu của đồng loại từng ngày, từng giờ vẫn đổ chỉ vì sự điên loạn của mấy kẻ thèm khát máu người. Những nhà cách mạng đang ngày đêm hi sinh xương máu vì độc lập tự do của dân tộc, ông cũng có nghe đến, nhưng giờ biết tìm họ ở đâu. Khi chiến tranh vừa nổ ra, hàng trăm, hàng nghìn người đã bị bắt. Ai may mắn thoát được thì cũng bặt vô âm tín. Để giải toả nỗi lòng, ông viết nhật kí, một hình thức được những người ưa sống nội tâm trải lòng mình, được thoải mái nói lên khát vọng riêng tư. Nhưng hình thức ghi chép này cũng không duy trì được lâu. Nó như món ăn tinh thần uỷ mị, dường như chỉ phù hợp với tầng lớp tiểu tư sản thành thị. Nó không phải là nơi để những trái tim hừng hực khát vọng như ông gửi gắm.
Được bạn bè mách bảo, Trần Cư tìm đến với báo chí. Vào năm 1941 lần đầu tiên trong đời ông có bài đăng trên tờ Tin mới văn chương (do ông Nguyễn Văn Luyện làm giám đốc, Nguyễn Tấn Gi Trọng làm chủ nhiệm, số 1 ra ngày 29.6.1940, số cuối là số 64 tháng 12.1941, toà soạn đặt tại số 5-7 phố Giuyliêng Blăng HN). Những bài viết của ông lúc này chủ yếu mang màu sắc văn chương, đôi khi, chúng có những nét nhang nhác của Tự lực văn đoàn. Tuy chúng đã giảm bớt sự ướt át, nhưng vẫn đơn giản, nhiều khi còn bộc lộ những non nớt vốn có của một cây bút mới vào nghề. Rồi tình trạng này cũng qua mau. Bạn đọc bắt đầu thích những tác phẩm chứa đầy cảm xúc với tất cả những nét góc cạnh, gồ ghề từa tựa cuộc sống của Trần Cư. Chúng như con người thực của ông vậy, không chau chuốt, tròn trịa đến mức giả tạo, nhưng cũng không quá ngây ngô, nhẹ dạ, cả tin. Đây là sự “tỉnh táo” của một chàng trai lần đầu biết yêu. Ngây thơ lắm, đáng yêu lắm, và cũng rất dễ bị hút xuống vực sâu thăm thẳm của những cám dỗ, hoan lạc. Và rồi, những tác phẩm mang đầy phong vị Trần Cư đã thu hút tâm trí người đứng đầu tờ báo nổi tiếng thời bấy giờ, Tiểu thuyết thứ bảy (Số 1 ngày 2.6.1934, số cuối tháng 8.1945, chủ nhiệm là Nguyễn Thị Hợi, sau là Vũ Đình Long, toà soạn 93 phố Hàng Bông- HN). Nhận được giấy mời của chủ báo, Trần Cư không tin vào mắt mình. Suốt đêm đó ông không ngủ được. Giờ thì ông có thể vung bút, vẩy mực, như bao nhà văn nổi tiếng đương thời. Trần Cư vui nhưng không mừng. Vui vì bao công sức, mồ hôi mình đổ ra giờ đã được người đời biết đến. Nhưng ông như chợt thấy trong lòng trống rỗng, bởi chẳng lẽ đời người chỉ gói gọn ở cái thú văn chương phù phiếm thôi sao. Những thứ này có kéo ông và đồng bào của ông ra khỏi vũng bùn nô lệ đâu.
Có thể nói, trước Cách mạng tháng 8.1945, Tiểu thuyết thứ bảy là tờ báo Trần Cư cộng tác lâu dài nhất. Trên tờ báo này, ông chủ yếu đăng các tác phẩm văn học như truyện ngắn, kí, tuỳ bút. Nhiều người cùng thời giờ vẫn còn nhớ những tác phẩm khá chắc tay của ông như Trưa tha hương (17.7.1943), Trên lái thần (12.1944)… Nói chung, âm hưởng sáng tác của Trần Cư thời kì này có nhiều nét buồn, như tâm trạng chung của cả thế hệ nhà văn mất nước khi đó. Cũng may, quãng thời gian u ám này không kéo dài lâu. Mặt trời cách mạng đã mọc, quét sạch mọi lầm than, khổ đau, đưa Trần Cư và những người như ông đến với cuộc sống mới, tuy vẫn còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, nhưng thực sự có ý nghĩa đối với những ai muốn làm người.

áo lính phơi sương mướt dặm dài
Hoà chung niềm vui với cả dân tộc, Trần Cư hăm hở đi theo cách mạng. Những khái niệm Việt Minh, Khai hội, Đồng chí, Chiến khu, Thoát li đối với ông sao mà lạ lẫm, sao mà thân quen. Chúng có thể gây choáng ngợp, sợ hãi nhưng lại có sức cuốn hút, hấp dẫn kì lạ. Với cây bút xưa, giờ Trần Cư tích cực viết báo cách mạng. Không chỉ sáng tác văn chương, trong năm đầu độc lập (1945-1946) Trần Cư còn viết phóng sự, xã luận, ghi chép, đưa tin về nhiều mảng của đời sống xã hội, từ phong trào diệt giặc dốt, giặc đói, giặc ngoại xâm, đến việc phản ánh không khí cách mạng trong các tầng lớp nhân dân. Ông thường xuyên có bài trên báo Dân chủ (Việt Minh duyên hải Hải Phòng), tạp chí Tiền phong (Hội văn hoá cứu quốc)… Nhưng rồi, “niềm vui ngắn chẳng tày gang”, người Pháp lăm le quay lại xâm lược nước ta. Hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Bác Hồ, Trần Cư tham gia công tác tổ chức cho hàng nghìn gia đình từ Hải Phòng vượt đường số 5 sang Bắc Ninh. Khi chiến sự diễn ra ác liệt, ông lại cùng họ chạy sang Thái Nguyên. Đây cũng là lúc ông trở thành phóng viên báo ánh Sáng (cơ quan ngôn luận của Khu bộ Việt Minh khu 1 Việt Bắc). Tờ báo này có lối viết giống tờ Việt Nam độc lập (do Bác Hồ sáng lập năm 1941, cơ quan của tỉnh bộ Việt Minh Cao Bằng, số 1 ngày 1.8.1941, số cuối ngày 24.1.1955). Rất nhiều bài báo được thể hiện theo hình thức văn vần, một số bài đạt đến trình độ nghệ thuật khá cao. Có thể nói, đây chính là lối viết sở trường của Trần Cư. Có những bài viết trên báo ánh Sáng của ông bộc lộ rất rõ chất thơ, được lưu truyền rộng rãi trong nhân dân. Chẳng hạn trong sổ tay của nhiều người lính đã ghi lại những câu, những đoạn như:
Nhà ta ngựa địch ở
Vườn ta địch trồng rau
Con ta chết gục bên cầu
Vợ ta lưu lạc biết đâu phương nào
Tản cư về làng cũ
áo mỏng buốt vai gầy
Ngô khoai ngày một bữa
Chao ôi vất lắm thay.
Dù viết dưới hình thức nào, các bài báo của Trần Cư bao giờ cũng nhằm tố cáo tội ác của kẻ thù xâm lược, khơi gợi, động viên tinh thần yêu nước, căm thù giặc trong nhân dân. Cũng trên báo ánh Sáng, Trần Cư viết rất nhiều bài báo bằng hình thức vè, thơ lục bát quen thuộc trong dân gian, nhằm phổ cập những kinh nghiệm đấu tranh, cách thức sử dụng súng cướp được của địch, phương pháp giữ bí mật cho đồng bào dân tộc thiểu số. Cách viết này có thể không nói được hết những điều tác giả muốn truyền đạt, nhưng lại có ưu điểm dễ nhớ, dễ lưu truyền. Bài văn vần dạy cách bắn súng của ông in trên tờ ánh Sáng được nhiều bà mẹ trẻ thuộc và trở thành câu ru con trong những đêm hè quạnh quẽ, nhớ chồng đang chiến đấu nơi xa. Tuy nhiên, trong thời gian đầu của cuộc kháng chiến, một số bài viét của Trần Cư vẫn chưa thoát khỏi lối viết phương Tây đầy chất lãng mạn rất thịnh hành tại các đô thị Việt Nam trước cách mạng tháng Tám. Việc lí tưởng hoá tình yêu, đề cao chủ nghĩa anh hùng cá nhân, vẫn còn rơi rớt đây đó. Đôi khi trong sáng tác của ông còn ồn ào, cường điệu:
Thi nhân ơi! thét cao lời chiến thắng
Nhạc sĩ ơi! đàn nắn khúc quân hành
Hoạ sĩ ơi! máu giặc vẽ lên tranh
Văn nhân ơi! đẽo xương thù làm bút
Bao nhiêu hận
Bao nhiêu thù
Bao căm hờn
Hãy trút cả vào thơ, vào nhạc cả vào tranh
Chống xâm lăng, bút mực quyết xây thành
Loại thơ có tính cổ động này khá phổ biến ở những cây viết trẻ lần đầu đối diện với cái sống, cái chết. Nó thật trong sáng, trượng nghĩa, đầy cảm xúc, nhưng cũng rất dễ bị tổn thương. Những “yếu điểm” này nhanh chóng được gột bỏ khi Trần Cư tham gia làm cho một số tờ báo của quân đội, một môi trường thích hợp để những người như ông rèn luyện cả về nhân cách lẫn tư tưởng chính trị.
Bước sang năm 1948, lực lượng kháng chiến bắt đầu lấy lại được thế chủ động trên chiến trường. Cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện với chiến lược phát triển chiến tranh du kích được đẩy mạnh hơn bao giờ hết. Để việc thông tin được nhanh nhạy, kịp thời, đồng thời phổ biến được sâu rộng kinh nghiệm tác chiến trong dân quân và bộ đội địa phương, Bộ tổng chỉ huy quyết định xuất bản báo Quân du kích. Số đầu tiên của báo ra ngày 1.4.1948, toà soạn đặt tại xóm Dịn, xã Bộc Nhiêu, huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên. Chủ nhiệm báo là Đào Phan (Đào Duy Dếnh), Trần Cư phụ trách nội dung với vai trò Chủ bút kiêm Thư kí toà soạn. Ngoài 2 người trên, Ban biên tập còn có Ngô Linh Ngọc, Hà Xuân Lợi, Hoàng Văn, Hoài Tín, Ngọc Bằng, Ngô Hoài, Lê Bách, Hoàng Phương, Bội Hoàn. Trình bày báo có Mai Sơn, Nguyễn Bích, Vũ Lai… Ngay từ đầu, Trần Cư và các đồng chí của mình xác định rõ tôn chỉ, mục đích cho báo: “Nêu cao thành tích về mọi ngành, phổ biến kinh nghiệm về mọi mặt, vạch rõ chủ trương và công tác thống nhất, đảm bảo sự thực hiện chiến thuật du kích”. Báo thường ra mỗi tháng một kì, nhưng cũng có khi, tuỳ theo tình hình chiến sự báo ra 2 tháng một kì. Số lượng phát hành trên dưới 1 vạn bản, in 12 trang, khổ 26x32 cm.
Quân du kích rất được Bác Hồ quan tâm, chăm sóc. Tháng 7.1949, Bác đã gửi thư động viên, khích lệ đội ngũ biên tập viên, phóng viên và giao nhiệm vụ cụ thể cho báo:
“Làm cho: Mỗi quốc dân là một chiến sỹ. Mỗi làng xóm là một pháo đài.
Làm cho: Quân đội giặc đi đến đâu cũng bị khuấy, bị phá, bị diệt. Bộ đội ta đi đến đâu cũng được giúp đỡ đầy đủ về vật chất và tinh thần”
Với vai trò Chủ bút kiêm Thư kí toà soạn, Trần Cư luôn bận rộn như người nuôi con mọn. Ông phải làm đủ mọi việc từ đặt bài, biên tập, viết thư trả lời bạn đọc đến trình bày, đặt tít, viết bài lấp chỗ trống, thậm chí nhiều khi phải trực tiếp đọc mo-rát. Nhà in đặt cách toà soạn hàng chục cây số, công việc buộc ông phải đi đi về về như con thoi. Các trang, mục chính của báo như xã luận, bình luận, tổng kết chỉ đạo nghiệp vụ, phổ biến kinh nghiệm chiến đấu, tin tức hoạt động của quân du kích khắp nơi, gương chiến đấu giỏi, trang văn nghệ… đều mang dấu ấn của Trần Cư. Chúng được bạn đọc là các chiến sỹ hết sức yêu thích. Để tạo sức sống động cho báo, Trần Cư luôn chủ động xây dựng kế hoạch cho từng số. Ông không bao giờ thụ động chờ tin tức từ các nơi gửi về, mà thường xuyên cử phóng viên đi cơ sở, tới những vùng đang xảy ra chiến sự ác liệt để đưa tin, viết bài. Vốn là người luôn sống gương mẫu, Trần Cư nhiều lần trực tiếp ra mặt trận và đã kịp thời viết những phóng sự chiến trường nổi tiếng, được người đọc đánh giá cao. Để có được thiên phóng sự Bắc Ninh chống càn quét, đăng liên tiếp 3 kì (số 16,17,18) trên báo Quân du kích, trong nhiều ngày liền, Trần Cư cũng phải xoay trần ra cùng anh em du kích, cùng người dân nơi đây đào hào, đắp luỹ, đưa người già, trẻ em đi sơ tán, có khi trực tiếp chiến đấu với kẻ thù. Nhờ đó mà phóng sự dài kì Bắc Ninh chống càn quét được thể hiện hết sức sống động, đến nay vẫn còn được nhiều bạn đọc nhắc đến.
Phụ trách phần nội dung của báo Quân du kích, Trần Cư luôn chú ý đến việc cải tiến tờ báo sao cho phục vụ được nhiều loại đối tượng. Ông rất chịu khó đi về các đơn vị, xuống các bản làng để tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của bạn đọc. Từ thực tế chiến tranh và nhu cầu của họ, ông về bàn với anh em tổ chức xây dựng các mục có sức sống mạnh mẽ như Gương chiến đấu giỏi, Mèo nhỏ bắt chuột nhỏ, tiền thân của các mục chuyên viết về gương người tốt việc tốt sau này. Đây chính là mảnh đất màu mỡ để Trần Cư cùng các phóng viên, cộng tác viên canh tác, thường xuyên có bài phản ánh những tấm gương tiêu biểu trong chiến đấu, lao động sản xuất, góp phần tạo nên phong trào thi đua giết giặc lập công trong toàn quân, toàn dân, phát huy những sáng kiến hay, phục vụ đắc lực cho công cuộc kháng chiến kiến quốc. Một trong những mục luôn thu hút mối bận tâm của Trần Cư là Kinh nghiệm chiến tranh du kích các nước. Các bài đăng trên mục này chủ yếu được dành cho các cấp chỉ huy nên văn phong thường có tính lí luận cao. Chúng là những bài có ý nghĩa tổng kết của các cấp lãnh đạo lực lượng vũ trang, hoặc được dịch từ các sách, tạp chí khoa học quân sự nước ngoài. Tuy là những bài học quan trọng giúp các cấp chỉ huy rút kinh nghiệm, từ đó đưa ra những sách lược đấu tranh hợp lí, nhưng bản thân những bài viết lại được thể hiện bởi văn phong khô khan, cứng nhắc, nặng nề. Để hạn chế nhược điểm này, một mặt Trần Cư chỉ đạo anh em phóng viên “Bình dân hoá” ngôn ngữ, chỉ phỏng dịch, lược dịch, rút ngắn đến mức thấp nhất dung lượng bài báo, mặt khác, ông rất chú trọng đầu tư công sức cho trang Văn nghệ, nhằm lấy lại cân bằng tâm lí cho bạn đọc. Để tạo sức hút cho trang văn nghệ, Trần Cư cất công đặt bài cho các văn nghệ sĩ nổi tiếng như Nguyên Hồng, Nam Cao… Các mảng thơ, nhạc, hoạ thường xuyên xuất hiện trên trang này, tạo được dấu ấn và sự thiện cảm của bạn đọc. Trong suốt cuộc đời làm báo của mình, có lẽ không có tờ báo nào chiếm nhiều công sức của Trần Cư như tờ Quân du kích. Không chỉ luôn tìm tòi cải tiến nội dung, ông còn rất chăm chút đến hình thức tờ báo. Biểu trưng (logo) nổi tiếng của báo chính là ý tưởng của Trần Cư, do hoạ sĩ Mai Sơn thực hiện. Hình ảnh anh du kích quấn khăn đầu rìu, mặt vuông cương nghị, cởi trần, ngực nở, bắp tay cuồn cuộn, cầm ngang một thanh mã tấu hiên ngang, quần xắn qua gối, chân đất, sau lưng là ngọn lửa lớn đang bùng cháy đã để lại ấn tượng không bao giờ quên trong lòng bạn đọc.
Quân du kích ra được 28 số thì ngừng để chuyển sang một giai đoạn phát triển mới. Trên tờ báo này, Trần Cư đã viết hơn 30 bài thuộc nhiều thể loại. Những lĩnh vực mà ông đề cập tới cũng khá phong phú, nhưng nổi bật nhất vẫn là những bài viết về người tốt việc tốt, tố cáo tội ác của kẻ thù, kinh nghiệm đấu tranh vũ trang của dân quân, du kích… Nhiều bài viết sau này đã được nhà xuất bản Quân du kích tuyển chọn in trong cuốn Sức mạnh dân quân. Có bài phóng sự của ông trở thành mẫu mực về tính chân thực, về khả năng lựa chọn chi tiết, khai thác con số điển hình cũng như thể hiện cái tôi nhân văn luôn chan chứa của tác giả. Có thể lấy bài Bình Trị Thiên đẫm máu (số 6 ngày 15.8.1948) như một ví dụ điển hình. Mở đầu bài báo là một câu hỏi đầy day dứt: “Trong toàn quốc nơi nào có những cuộc tàn sát khổng lồ hơn ở đây?”. Ngay sau đó là những con số tuôn ra ào ạt, khiến những con người lương thiện phải kinh hoàng: “Lùa người lên cầu rồi xả liên thanh, nhốt người vào nhà rồi ném lựu đạn, tiêu diệt từng nhà, từng xóm, từng làng, 400 người chết ở Quảng Trị, 600 người ở chợ Cạn, 900 người phần đông là đàn bà và trẻ con ở Hải Lăng (Quảng Trị). Luôn trong 3 ngày 17,18,19 tháng ba năm 1948, chúng đã giết 1.333 đồng bào vô tội; bắt 700 con trâu, đốt 2.000 nóc nhà và hiếp chết 218 phụ nữ. Một huyện ở phía Nam Thừa Thiên trong 2 ngày bị hiếp 500 người, có những làng ở Quảng Trị bị hiếp 150 phần trăm, và có người bị giặc hiếp đi hiếp lại 3,4 trận. Tên lính ta bắt được ở Cầu Nhi đã khai mình hắn hiếp 120 phụ nữ. Nào đã hết ê chề, chúng còn đổ bệnh cho dân: Bệnh hoa liễu là một mối kinh khủng trên mảnh đất yêu thương này”. Không chỉ viết về chiến công của lực lượng dân quân du kích, Trần Cư còn biết thắp lên ngọn lửa căm thù giặc trong các loài vật với hàng loạt bài như; Lợn gà tránh giặc, Trâu cướp súng, Voi nguỵ trang, Thuỷ tổ loài người (Khỉ) kháng chiến, Chuột đốt trại, Ong truy kích… Loại bài mang màu sắc hư hư thực thực này lại có ý nghĩa giáo dục tinh thần yêu nước rất lớn trong quần chúng nhân dân. Những câu chuyện này được Trần Cư đăng trên mục Vô lí mà có thật.
Nợ đời khó trả lắm ai ơi
Từ cuối năm 1950, tình hình chiến tranh có nhiều thay đổi có lợi cho ta. Để phục vụ cho việc xây dựng lực lượng vũ trang, hai tờ báo Vệ quốc quân (cơ quan ngôn luận của bộ đội chính qui) sáp nhập với Quân du kích thành tờ Quân đội nhân dân. Nhà in của hai tờ báo trên cũng hợp nhất thành Nhà in Quân đội. Thời gian đầu, cơ quan báo được đặt tại bản Quặng xã Định Biên huyện Định Hoá tỉnh Thái Nguyên. Số đầu tiên của Quân đội nhân dân ra ngày 20.10.1950, do đồng chí Lê Liêm làm chủ nhiệm, Lưu Văn Lợi làm thư kí toà soạn. Tuỳ theo tình hình chiến trường mà báo ra thưa hoặc mau kì. Mỗi khi chiến sự diễn ra ác liệt báo phát hành dồn dập, có khi ra hằng ngày. Báo Quân đội nhân dân chia làm hai bộ phận: báo ở hậu phương lo những vấn đề chung của quân đội, báo ở tiền phương (do Trần Cư làm thư kí toà soạn) bám sát chiến trường, thậm chí có lúc phải trực tiếp chiến đấu như những người lính thực thụ. Toà soạn tiền phương có 6 người gồm Hoàng Xuân Tuỳ (phụ trách chung), Trần Cư, Phạm Phú Bằng, Nguyễn Khắc Tiếp, Nguyễn Trần Thiết và hoạ sỹ Nguyễn Bích. Có thể nói, đây là thời kì làm báo đáng nhớ nhất đối với Trần Cư. Ngoài vai trò nhà báo, ông không quản ngại hi sinh, gian khổ, xông pha nơi mũi tên hòn đạn. Bước chân ông in dấu trên khắp các nẻo đường chiến trận. Đối với toà soạn ông được xem như cây sáng kiến trong việc xây dựng các trang mục cho tờ báo. Với ông, ra được báo không khó, cái khó là làm thế nào để mỗi bài in trong đó phải là những món ăn tinh thần đặc biệt làm thoả lòng người chiến sỹ, những con người vừa từ cõi chết trở về, phải làm sao để họ hiểu rằng, mọi hi sinh mất mát của người lính cách mạng có ý nghĩa lớn như thế nào đối với nền độc lập, tự do của dân tộc. Đọc tờ báo, ai cũng như có thêm sức mạnh để chiến đấu với kẻ thù, xứng đáng với vai trò là “Tiếng nói của quân đội quốc gia và dân quân Việt Nam. Sau bao đêm trăn trở, Trần Cư và các đồng đội của ông đã xây dựng được nhiều mục rất được bạn đọc hoan nghênh như; Tường thuật trận đánh, Tin chiến sự, Tin thế giới, Tin hậu phương, Bình luận quân sự, Sổ tay kinh nghiệm… Để tờ báo bớt khô khan, ông cho đan xen giữa những mục trên là các tuỳ bút, bút kí, thơ, tranh biếm hoạ…
Ngoài công việc “bếp núc” ra, mỗi khi có điều kiện, Trần Cư lại xách súng, khoác ba lô, trên cổ treo lủng lẳng chiếc túi vải nhỏ, trong đựng chiếc bút máy hiệu Shaeff mà ông quí hơn vàng, xông lên tuyến trước tìm đề tài để viết. Tái hiện những trận đánh, nêu gương chiến sỹ anh hùng, mô tả bộ mặt quái gở của kẻ thù, là những nội dung chính trong các bài viết của Trần Cư thời kì này. Các bài báo của ông luôn có sức cổ vũ to lớn, làm lay động lòng người. Độc giả không thể quên Một chiến sỹ chống bom nổ chậm với bao cảm xúc ánh lên trên từng câu chữ: “… Trái bom nằm trong lòng đất câm lạnh lặng người! Không biết chắc chắn nó nổ lúc nào. Xác mình tan như xác pháo… Ta nhìn rõ mục tiêu chiến đấu trước mắt. Ta lại biết nhìn rõ ý nghĩa cuộc đời, đánh giá đúng sự sống và sự chết, ta biết sống và biết chết”. Bài kí có tính nhân văn lớn lao này đã gây dựng niềm tin vào chính nghĩa, củng cố tinh thần yêu nước trong bản thân mỗi cán bộ, chiến sỹ: “Một quân đội có những chiến sỹ gang thép như vậy, một dân tộc có những con người ưu tú như vậy, quân đội đó, dân tộc đó nhất định thắng”- QĐND số Tết, ngày 1.2.1954.
Là phóng viên theo sát mọi diễn biến của cuộc chiến, nhiều bài báo của Trần Cư đã đi sâu vào tiềm thức người lính. Nhưng đáng nhớ nhất đối với ông, trong thời kì này có lẽ là bài báo Đêm nay Bác không ngủ viết chung với Phú Bằng, in trên báo QĐND số 135 ngày 24.3.1954: “Bác ngồi đó mà lòng Bác làm rạo rực lòng ta, quyết tâm sắt đá của Bác đã biến thành sức mạnh của hàng vạn cánh tay chúng ta, đang nắm chặt vũ khí, chờ diệt quân thù… Bác luôn là ngôi sao sáng dẫn đường, là niềm tin thắp lên lòng dũng cảm, là sức sống mãnh liệt tiềm ẩn lung linh… Đôi mắt người cha bỗng ứa ra hai dòng nước mắt, từ từ chảy trên hai gò má, rồi rơi xuống tấm bản đồ… Bác nâng tay lên, thong thả và quả quyết cầm bút gạch chéo trên đồn giặc… Thưa các đồng chí, đêm nay Bác không ngủ… Bác đang dõi theo lá cờ quyết chiến quyết thắng đỏ rừng rực băng qua tiền tuyến, vượt qua đột phá khẩu, lướt vào trung tâm và phần phật oai nghiêm bay trên nóc lô cốt giặc. Bác cười vui sướng! Bác hôn tất cả chúng ta, mỗi người một cái”. Bài viết mau chóng trở nên nổi tiếng, được nhiều chiến sỹ chép vào sổ tay. Tuy ngắn gọn nhưng nó đã lột tả sâu sắc hình ảnh vị lãnh tụ giản dị, nhân từ, cả đời vì nước vì dân.
Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Trần Cư viết khá nhiều. Bài nào của ông cũng có tầm khái quát cao, cụ thể và chân thực. Tiêu biểu trong số này là Sức mạnh vĩ đại của nhân dân trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Quyết trả thù cho Nguyễn Quốc Ân, Những gương dũng cảm quyết tâm diệt địch, Hướng về miền Nam ruột thịt, Điện Biên Phủ một trại lính quái gở, Thò thằng nào thịt thằng ấy, ở Mường Thanh địch ra hàng như nước chảy… Loạt bài của Trần Cư được Bác Hồ hết sức khen ngợi. Mỗi khi có báo từ chiến trường về, Bác đều hỏi Sơn Tùng (thư kí của Bác) có bài của Trần Cư không. Đây là vinh dự lớn và không phải nhà báo nào cũng nhận được sự quan tâm đặc biệt đó.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Trần Cư theo báo QĐND chuyển về Hà Nội, với tư cách thư kí toà soạn. Từ tháng 9.1955, sau chuyến đi Trung Quốc về, ông chuyển sang làm trưởng phòng Bạn đọc kiêm thêm phòng Văn hoá văn nghệ. ở cương vị mới, ông vẫn chứng tỏ tinh thần làm việc hăng say, cần mẫn, có tinh thần trách nhiệm cao. Với bản chất người lính, ông đấu tranh không khoan nhượng với những biểu hiện tiêu cực, sai trái trong xã hội, bênh vực lẽ phải, ca ngợi những hành vi tốt đẹp trong nhân dân. Từ năm 1956, ở Việt Nam xuất hiện nhóm Nhân văn - Giai phẩm có nhiều quan điểm đi ngược lại đường lối văn nghệ của Đảng ta, có những động thái không phù hợp tình hình chính trị miền Bắc vừa được giải phóng. Trước thực tế này, Trần Cư đã có loạt bài Chặn ngay những quan điểm nghệ thuật của nhóm Nhân văn đang định sống lại trên báo Văn và bài Thực chất của cái “mới” và “tìm tòi” của nhóm Nhân văn - Giai phẩm chỉ là chủ nghĩa xét lại chống lại đường lối văn nghệ của Đảng (QĐND các số 415,416, 433,434). Bằng nhãn quan chính trị sắc sảo, Trần Cư đã vạch rõ bản chất phản động của những kẻ cầm đầu Nhân văn - Giai phẩm, làm cho người đọc ngày càng tin tưởng ở tính ưu việt của chế độ XHCN, tin tưởng vào Đảng, vào Bác.
Kể từ ngày chuyển về Hà Nội, Trần Cư có nhiều thời gian dành cho văn nghệ. Ngoài những tác phẩm mới sáng tác, ông chú ý nhiều hơn đến mảng dịch văn học nước ngoài. Đáng kể là: Những cuộc chiến đấu trên đường Vlokolamsk (1955), Bé Xriogia (1957), Chim non sẽ lớn (1961)… Thấy Trần Cư có “máu” văn nghệ, năm 1965, đồng chí Tổng biên tập Nhà xuất bản QĐND mời ông về phụ trách phòng Văn nghệ của nhà xuất bản. ở cương vị mới này, ông đã làm tốt chức trách của mình, được đồng đội và đồng nghiệp hết sức kính trọng, nể phục. Ông tiếp tục chứng tỏ là người có nhiều sáng kiến, đã đứng ra tổ chức, biên soạn nhiều cuốn sách có giá trị, đặc biệt là loại sách Người tốt việc tốt. Những cuốn sách này là nguồn động viên, cổ vũ rất lớn quân, dân ta trong công cuộc xây dựng CNXH, đấu tranh thống nhất đất nước. Không dừng lại ở đó, ông liên tục viết bài cho nhiều tờ báo khác nhau như tạp chí Văn học, Văn nghệ quân đội… Sau này, khi nghỉ hưu, ông còn mở rộng phạm vi hoạt động hơn, trở thành cộng tác viên quen thuộc của các báo Tiền Phong, Lao Động, Sài Gòn giải phóng, Tia Sáng, Điện ảnh Việt Nam… Cùng với Hội cựu chiến binh, ông góp sức mình tham gia thành lập Thư viện Quân đội. Thời gian trôi nhanh không làm mờ nhạt nét tinh anh trong đôi mắt ông, vầng trán cao như mênh mông hơn dưới mái tóc dài bạc trắng phơ phất. Vào cái tuổi ngoài bảy mươi, Trần Cư vẫn ham viết. Bỏ qua nét gân guốc của chiến tranh, vượt lên cái nhộn nhạo của đời thường, ông trải lòng mình bay trên trang giấy. Nét hào hoa ngày nào vẫn ẩn hiện trong từng câu chữ. Càng về cuối đời, sự chiêm nghiệm về nhân tình thế thái càng in dấu đậm đà trong văn chương của ông.
Vào những ngày cuối cùng của thế kỉ XX, sức khoẻ Trần Cư đột nhiên suy giảm rất nhanh. Vậy mà, có những lúc nằm trên giường bệnh, vị đại tá về hưu vẫn không quên niềm đam mê chữ nghĩa của mình. Tay run không cầm được bút, ông đọc cho con cháu chép lại những suy nghĩ của mình. Khi Trần Cư nhắm mắt xuôi tay, người ta thấy trên đầu giường nơi ông nằm đặt ngay ngắn một bài tiểu luận viết dở: Niềm sung sướng không giấu nổi của Bác Hồ khi viết Tuyên ngôn độc lập. Nghe nói, tâm nguyện cuối của Trần Cư là được chôn cùng cuốn tiểu luận này, được mặc bộ quân phục suốt đời ông gắn bó. Đúng là, ông ra đi mà đâu đã yên lòng. Thế mới biết, chữ nghĩa ghê gớm thật! Nó như con ma dại vậy, khi đã vận vào ai thì khó thoát ra lắm. Nó như món nợ đời cứ đeo đẳng con người ta từ kiếp này sang kiếp khác. Món nợ đời này sao mà đáng sợ quá, nó làm cho con người ta luôn trong tâm trạng dằn vặt, trăn trở, khổ đau, bất an, hỉ nộ, ái ố… nhưng thiếu nó bỗng thấy mình sao sống tẻ nhạt thế, vô trách nhiệm thế. Chẳng lẽ, cuộc đời mỗi con người, ai cũng nên có một con ma, có một món nợ đời để được vay, được trả, như Trần Cư sao?