Thứ Tư, 8 tháng 4, 2009

Phan Văn Trường: "Nặng bầu nhiệt huyết vị người Nam"

Đông Ngạc (Từ Liêm, Hà Nội) còn có tên là Kẻ Vẽ lâu nay được coi như vùng đất “Địa linh nhân kiệt”, nơi đã từng sản sinh ra nhiều bậc hiền tài cho đất nước. Họ Phan là một trong những họ lớn của làng đã cư ngụ tại đây từ nhiều thế kỷ trước. Kế tục truyền thống khoa bảng của tổ tiên, Phan Văn Trường đã hiến cả đời mình bôn ba đây đó mở rộng tầm hiểu biết, tìm đường đưa dân tộc thoát khỏi kiếp nô lệ.

LONG ĐONG CẢNH CÁ CHẬU CHIM LỒNG

Đã có lần Phan Văn Trường nói về thân thế của mình “Cũng như nhiều người Việt Nam khác, tôi xuất thân trong một gia đình nhà nho thấm nhuần những nguyên tắc truyền thống về lòng vị tha và tính không vụ lợi…”. Ông sinh ngày 7 tháng 8 năm Bính Tý (tức 25.9.1876). Thân phụ của ông là Phan Anh Nhân, còn thân mẫu là Phạm Thị Nghiêm. Hai ông bà có 9 mặt con gồm 6 trai 3 gái. Phan Văn Trường đứng thứ 5 trong số 6 người con trai này. Nhờ được giáo dục hết sức chu đáo nên cả mấy anh em của Phan Văn Trường đều thành đạt, trở thành những bậc thức giả, có tinh thần yêu nước sâu sắc.
Tốt nghiệp trường Thông ngôn từ khá sớm, Phan Văn Trường về làm việc cho Phủ Thống sứ Bắc Kỳ. Năm 1907, các chí sĩ Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Hoàng Tăng Bí, Lê Đại… quyết định mở trường Đông kinh nghĩa thục tại Hà Nội, biến nơi đây thành trường học giáo dục lòng yêu nước cho thanh niên. Tham gia giảng dạy cho Đông kinh nghĩa thục ngoài Phan Văn Trường còn có hai người anh của ông là Phan Tuấn Phong và Phan Trọng Kiên. Có thời kỳ một lớp học của trường được đặt tại nhà của Phan Văn Trường tại xã Đông Ngạc. Vì nghi ngờ đây là một cái ổ tuyên truyền cộng sản, thực dân Pháp đã nhiều lần tiến hành khám xét, bắt bớ và cuối cùng đóng cửa Đông kinh nghĩa thục vào tháng 11.1907. Mấy tháng sau tại miền Trung xảy ra vụ kháng thuế, tại Hà Nội xảy ra vụ đầu độc lính Pháp, chính quyền thực dân nghi ngờ có liên quan đến nhóm giáo viên Đông kinh nghĩa thục nên đã bắt hàng loạt người, trong đó có ba anh em họ Phan. Vì không có chứng cớ nên sau đó người Pháp buộc phải thả họ.
Vừa thoát khỏi giam cầm, Phan Văn Trường lập tức sang Pháp, theo lời ông tự thuật thì để khỏi phải chứng kiến những cảnh đau lòng trong đời sống ở thuộc địa. Trên đất Pháp ông dành phần lớn thời gian sống ở Paris. Để thuận lợi hơn cho con đường học tập Phan Văn Trường gia nhập quốc tịch Pháp. Cùng lúc ông học hai ngành Văn chương và Luật. Sau khi tốt nghiệp cử nhân ông tiếp tục học lên bậc tiến sĩ Luật khoa. Đang học dở dang thì chiến tranh thế giới lần thứ nhất nổ ra, Phan Văn Trường buộc phải nhập ngũ, đóng quân cách Paris khoảng 100km. Tham gia quân đội chưa được bao lâu thì ngày 12.9.1911 ông bị bắt giam với lý do khá mơ hồ là Có tiền sử phiến loạn. Có thể người Pháp cho rằng để những phần tử này được tự do sẽ không có lợi, nhất là trong tình hình thời chiến. Nhờ sự vận động của một số tổ chức, cá nhân tiến bộ Pháp, đến tháng 7.1915 Phan Văn Trường được thả, tiếp tục phục vụ trong quân ngũ đến hết chiến tranh. Trở lại làm dân thường ông tiếp tục thực hiện luận án Tiến sĩ có đề tài Lược khảo về luật Gia Long. Luận án được bảo vệ thành công xuất sắc và ông trở thành Tiến sĩ Luật khoa người Việt đầu tiên tốt nghiệp tại Pháp.
Trong quá trình ở Paris, Phan Văn Trường thuê ngôi nhà số 6 Villa-des Gobelins quận 13 để làm nơi sinh hoạt, gặp gỡ bạn bè, đồng chí. Đây được coi như trạm tiếp đón các nhà yêu nước Việt Nam khi họ vừa đặt chân lên đất Pháp. Năm 1911 Phan Chu Trinh cùng con trai sang Pháp và gần một năm sau ông đã gặp Phan Văn Trường. Sự đồng cảm trên nhiều lĩnh vực đã khiến họ mau chóng trở thành những người bạn, đồng chí gắn bó, tri kỷ. Phan Chu Trinh sau đó đã dọn về ở hẳn ngôi nhà này. Để quy tụ những người cùng chí hướng, hai ông đã bàn bạc đứng ra lập Hội đồng bào tương thân tương ái do Phan Văn Trường làm Hội trưởng. Đây có thể được coi là một tổ chức Việt kiều đầu tiên tại hải ngoại. Tuy nhiên, trong thời kỳ chiến tranh (1914-1918), đặc biệt là quãng thời gian Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường ngồi tù, do không có người lãnh đạo, nên Hội này hoạt động rất rời rạc sau đó tan rã. Chiến tranh kết thúc việc lập lại một Hội tương tự là hết sức cần thiết bởi lúc này số người Việt Nam ở Pháp đã tăng lên rất nhiều. Nếu được tập hợp lại, đây sẽ là lực lượng quan trọng nói lên được những nguyện vọng của người dân thuộc địa. Kế hoạch lập Hội Những người Việt Nam yêu nước đã có, vấn đề nảy sinh là ai sẽ lãnh đạo Hội này khi mà cả hai nhà yêu nước họ Phan đều đang nằm trong tầm ngắm của chính quyền, mọi hoạt động của họ đều bị theo dõi sát sao. Sau một thời gian cân nhắc, cuối cùng hai ông quyết định mời Nguyễn Tất Thành (lúc này đang ở London – Anh) sang Paris. Trước khi sang Pháp, trong nhiều năm trời, Nguyễn Tất Thành đã có mối liên hệ chặt chẽ với Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường. Tính năng nổ, thông minh của Nguyễn Tất Thành cộng với sự hỗ trợ hết mình của hai chí sĩ họ Phan, Hội Những Người Việt Nam yêu nước hoạt động rất sôi nổi, mạnh mẽ, đã tập hợp được đông đảo những người Việt Nam đang sinh sống, học tập tại Pháp. Hội đã gửi Bản yêu sách của nhân dân Việt Nam tới Hội nghị Versailles (18.6.1919). Bản yêu sách viết bởi ba thứ tiếng Pháp – Việt – Hán được ký bởi bút hiệu Nguyễn Ái Quốc đã gây chấn động dư luận trong và ngoài nước. Bộ ba Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Tất Thành bị theo dõi gắt gao. Sau này Bộ trưởng thuộc địa Pháp đã nhận xét riêng về Phan Văn Trường: Trong số những tên phiến loạn cần theo dõi, trước hết là Phan Văn Trường cư trú tại Mayenxơ. Tên đó thuộc quốc tịch Pháp và là em trai của những tên chống Pháp mà ai cũng biết đã bị kết án bên xứ Đông Dương và bản thân tên đó cũng đã là đối tượng của một cuộc thẩm tra từ Pháp vào năm 1915 tại Paris. Vì “Âm mưu chống lại sự an ninh của nhà nước” tên đó là linh hồn của một nhóm người An Nam đáng ngờ cư trú tại châu Âu và Viễn Đông, tổ chức những cuộc họp thường xuyên tại Paris, gửi tới các cộng đồng bản xứ những gói truyền đơn cách mạng và cố gắng gây ra bên xứ Đông Dương những vụ rối loạn sẽ làm cho việc điều hành nền bảo hộ của chúng ta thêm khó khăn hơn” – Tạp chí Lịch sử Đảng số 2.1993.
Mặc dù có chân trong Bồi thẩm đoàn Paris nhưng vì không mở văn phòng riêng nên Phan Văn Trường có rất ít thân chủ. Thêm nữa, do phải giúp đỡ, cưu mang một số người ở trong nước sang nên hoàn cảnh kinh tế của ông gặp không ít khó khăn. Nhiều khi ông phải dựa vào sự hỗ trợ của bạn bè, đặc biệt là những giúp đỡ của Khánh Ký (Nguyễn Đình Khánh, người đã truyền bá nghề ảnh cho bà con làng Lai Xá - Hoài Đức – Hà Tây). Từ sau chiến tranh, Phan Văn Trường ít ở Paris. Có thời gian ông sang Đức làm trạng sư nhưng vẫn giữ mối liên hệ chặt chẽ với các đồng chí ở Pháp. Lúc này ông đã xây dựng gia đình với một phụ nữ Pháp và có với nhau một người con trai đặt tên là Robert Phan.
Từ đầu những năm 20 của thế kỷ trước Hội Những người Việt Nam yêu nước không còn hoạt động mạnh như trước. Cái tên của Hội dễ bị quy kết là quá khích nên nhiều người ngần ngại gia nhập tổ chức này. Cũng vào quãng thời gian này người Pháp ráo riết tài trợ cho một số người Việt tay sai đứng ra lập các đoàn thể để lôi kéo người dân Đông Dương ủng hộ chính sách cai trị của nhà cầm quyền thực dân. Trước thực tế này, Nguyễn Ái Quốc, Phan Văn Trường quyết định lập lại Hội Đồng bào tương thân tương ái. Do có tính cởi mở hơn nên Hội này, ngay sau ngày thành lập (2.1923) đã thu hút được một lượng khá đông Việt kiều tham gia Hội Đồng bào thân ái và Hội Liên hiệp thuộc địa (1920) cùng hoạt động song song đã gây được tiếng vang rất lớn tại Pháp cũng như ở Đông Dương và một số thuộc địa khác. Lúc này, ở Việt Nam nhãn quan chính trị của người dân cũng được nâng cao rất nhiều, một số đảng phái chính trị có màu sắc yêu nước cũng đã bắt đầu xuất hiện, khiến nhà cầm quyền thực dân hết sức lo ngại. Khi Hội Đồng bào thân ái đã khá ổn định về tổ chức, nhân sự thì Nguyễn Ái Quốc bí mật đi Liên Xô. Và ngày 6.12.1923 Phan Văn Trường cũng lên tàu về nước. Sau đó 4 ngày (10.12.1923) tờ báo La Clochefe’lêe (Chuông rè) do Nguyễn An Ninh khởi xướng phát hành số đầu tiên. Ba sự kiện trên xảy ra cùng một thời điểm khiến chúng ta phải đặt ra giả thiết: Dường như Phan Văn Trường, Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn An Ninh đã có sự bàn bạc, thống nhất với nhau từ trước. Xét trên nhiều phương diện, không phải ngẫu nhiên mà tờ Chuông rè có rất nhiều đặc điểm, tính chất giống với tờ Người cùng khổ (Le Paria – số 1 ra ngày 1.4.1922, cơ quan ngôn luận của Hội Liên hiệp thuộc địa do Nguyễn Ái Quốc làm chủ nhiệm kiêm quản lý). Khi vừa đặt chân đến Sài Gòn Phan Văn Trường đã giữ vai trò Chủ nhiệm tờ Chuông rè (sau này là L’Annam) hai tờ báo yêu nước tiêu biểu của Việt Nam trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam xuất hiện. Có vẻ như trước đó, Nguyễn Ái Quốc, Phan Văn Trường không chỉ có mối liên lạc đơn thuần với trong nước mà còn giữ vai trò quan trọng đối với các phong trào yêu nước ở Việt Nam lúc đó. Trong mấy năm ở Sài Gòn, ngoài công việc liên quan đến báo chí, Phan Văn Trường còn đăng đàn diễn thuyết, viết sách. Những hoạt động có tính yêu nước của ông luôn bị chính quyền cả Pháp lẫn Nam tìm cách ngăn trở, gây khó dễ.
Đúng vào thời điểm Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô về Quảng Châu (Trung Quốc), Phan Văn Trường vào Sài Gòn (cuối 1924), các phong trào yêu nước ở Việt Nam bắt đầu dâng cao. Hàng loạt đảng phái chính trị xuất hiện đã quy tụ được đông đảo quần chúng nhân dân. Đây cũng là quãng thời gian ở Việt Nam có nhiều biến cố. Phan Bội Châu bị bắt rồi bị đưa về nước xét xử (1925). Phan Văn Trường cùng các đồng chí lập mặt trận báo chí đấu tranh đòi xoá bỏ án tích cho Phan Bội Châu. Cuộc đấu tranh kết thúc thắng lợi Phan Văn Trường tiếp tục đứng ra vận động nhân dân đóng góp tài chính để ổn định nơi ăn chốn ở cho nhà chí sĩ. Sang năm 1926 Nguyễn An Ninh lại bị bắt, Phan Chu Trinh đột ngột mất tại Sài Gòn. Phan Văn Trường tiếp tục phát động phong trào đấu tranh đòi thả Nguyễn An Ninh, tổ chức đám tang cho Phan Chu Trinh trong cả nước suốt 8 tháng trời. Với tội danh Xúi giục người dân làm loạn, ngày 21.7.1927 Phan Văn Trường bị bắt, bị đưa ra toà án đỏ Sài Gòn xét xử và nhận mức án 2 năm tù giam. Ông chống án sang Pháp. Một thời gian sau, toà Paris xử ông y án. Mãi tới cuối năm 1931 Phan Văn Trường mới được trả tự do, và chỉ hơn một năm sau đó (ngày 21.4.1933) ông mất tại Hà Nội, thọ 57 tuổi.

LẬN ĐẬN GIỮA CÁC LUỒNG TƯ TƯỞNG
Có người đã coi Phan Văn Trường là nhà Mác-xít đầu tiên của Việt Nam. Nhận định này không sai nhưng chưa rõ. Phan Văn Trường sang Pháp năm 1908, là thời kỳ có rất ít người Việt sinh sống, học tập ở nước này nên ông có điều kiện thuận lợi nghiên cứu chủ nghĩa Mác. Trong một số bài viết ông đã bày tỏ thiện cảm của mình đối với cách mạng tháng Mười Nga, với chủ nghĩa cộng sản. Điều này không có nghĩa ông đã trở thành người cộng sản. Cho đến nay chúng ta chưa có tư liệu nào trong tay chứng minh Phan Văn Trường đã từng là thành viên của một tổ chức cộng sản nào cho dù ông đã từng sống và làm việc với nhiều đảng viên cộng sản trong và ngoài nước.
Có những thời kỳ dài, tại Paris, Phan Văn Trường có mối liên hệ rất chặt chẽ với nhóm Phan Chu Trinh, Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thế Truyền nhưng dường như giữa họ vẫn có những khác biệt về quan điểm, tư tưởng. Mặc dù có mối giao tình lâu năm, nhưng đã nhiều lần Phan Văn Trường đã gay gắt phê phán quan điểm Ỷ Pháp cầu tiến bộ của Phan Chu Trinh. Sau khi Phan Chu Trinh mất, Phan Văn Trường đã có bài Thoả hiệp Pháp – Việt một trò đùa đăng trên báo Chuông rè số ra ngày 22.4.1926, trong đó có đoạn: “Mặc dầu bị thất vọng chồng chất bao lần, một số đông người vẫn còn chạy theo “Con ma thoả hiệp”. Hãy kể một trường hợp là Phan Chu Trinh”. Đã có lần Nguyễn An Ninh viết bài đăng trên báo Trung Lập (số 6697 ra ngày 27.4.1933) nhận xét về sự khác biệt trong nhận thức chính trị giữa Phan Chu Trinh và Phan Văn Trường: Phan Chu Trinh lắm khi bị ông ta (Phan Văn Trường) phê bình dữ dội cũng là vì cái tính ngay thẳng của ông ta không hạp với cái tính đầu cơ của Phan Chu Trinh. Phan Văn Trường nghiên cứu chủ nghĩa Mã-Khắc-Tư (Mác) nhờ nó mà hiểu rõ sự tiến bộ xã hội. Còn Phan Chu Trinh trong mười mấy năm ở Pháp cứ ôm bộ “ẩm băng” Lương Khải Siêu, cho đến ngày về xứ cũng đem theo tàu để lót đầu nằm, thì làm sao không chỏi nhau được…”.
Lâu nay, ở Việt Nam có hai quan điểm không tương đồng với nhau khi so sánh lập trường giữa Nguyễn Ái Quốc và Phan Văn Trường. Có người đã xếp Phan Văn Trường vào nhóm những người theo chủ nghĩa dân tộc. Có ý kiến lại khẳng định Phan Văn Trường đã đứng hẳn về phía những người cộng sản. Đúng là Phan Văn Trường rất có thiện cảm với chủ nghĩa cộng sản. Chính vì lẽ đó nên ông mới viết: Ảnh hưởng của cách mạng Nga làm cho Đảng Xã hội thống nhất Pháp chia làm hai, mỗi bên có một học thuyết riêng: Đảng Cộng sản và Đảng Xã hội. Từ ngày phân biệt đó, hai đảng tuy cùng một gốc nhưng lại chống đối nhau. Đảng Cộng sản trung thành với học thuyết xã hội chủ nghĩa thuần khiết, tuyên bố rằng mình là đảng chân chính cách mạng. Đảng Cộng sản công khai tuyên bố rằng mình hoạt động nhằm đánh đổ chế độ tư bản chủ nghĩa bằng cách làm cách mạng theo gương sáng nước Nga Bôn-sê-vích… Còn Đảng Xã hội mới này không tán thành cách mạng, chống một cách dữ dội, không kém gì giai cấp tư bản… Từ đó có thể nói rằng những người xã hội, trong nhiều trường hợp đã kết bè với bọn tư bản – Bài Một đảng viên Xã hội làm Toàn quyền Đông Dương – Chuông rè số 20 ra ngày 26.11.1925. Những ý kiến tương tự như trên của Phan Văn Trường còn xuất hiện rải rác trên nhiều bài viết khác. Những thiện cảm kiểu này chưa đủ để khẳng định ông đã trở thành một nhà cộng sản đích thực. Dường như Phan Văn Trường mới chỉ đồng ý trên nguyên tắc lập trường của người cộng sản đối với vấn đề thuộc địa. Cũng trong bài báo vừa kể trên ông viết: Đặc biệt về vấn đề thuộc địa thái độ của người Cộng sản rất kiên quyết, dứt khoát. Đảng hoàn toàn tán thành việc thực hiện nguyên lý dân tộc tự quyết, mỗi dân tộc đều có quyền làm chủ vận mệnh của mình, cai trị lấy mình. Đảng tán thành hoàn toàn việc giải phóng tất cả các thuộc địa… Còn Đảng Xã hội thì không công nhận nguyên tắc đó. Những người xã hội đồng tình với bọn tư bản rằng thuộc địa là đất đai cần thiết cho sự thịnh vượng của chính quốc, họ chỉ chủ trương thi hành một đường lối chính trị cải cách cho dân bản xứ”. Nếu so sánh quan điểm này với những bài viết của Nguyễn Ái Quốc trên báo Thanh Niên vào cùng thời điểm ta thấy Phan Văn Trường đang tiến gần đến với Nguyễn Ái Quốc. Rõ ràng là Phan Văn Trường không đến mức thụ động như Phan Chu Trinh và cũng chưa đạt tới sự quyết đoán, tự tin của Nguyễn Ái Quốc. Hạn chế này có lẽ xuất phát từ hai nguyên nhân. Về khách quan, lập trường của Phan Văn Trường chủ yếu được bộc lộ trên mặt báo công khai, in và phát hành trong nước, chịu sự kiểm soát ngặt nghèo của thực dân Pháp nên ông khó có thể nói thẳng chính kiến của mình. Trong khi đó Nguyễn Ái Quốc lại viết trên báo bí mật tại nước ngoài vì vậy không bị gò bó trong việc bộc lộ thái độ quan điểm của mình. Về chủ quan, bản tính của Phan Văn Trường lại quá cẩn trọng, nhiều khi dẫn đến chậm chạp, dễ bỏ qua những cơ hội đến với mình. Chính vì lẽ đó mà ông Bùi Lâm đã từng nhận xét: Ông Trường là một trí thức yêu nước cũng muốn tìm hiểu chủ nghĩa cộng sản, nhưng ông thiên về sách vở, khác đồng chí Nguyễn Ái Quốc là một nhà lý luận đồng thời là một người hoạt động thực tiễn đi sâu vào anh em lao động” – Gặp Bác ở Paris – Bác Hồ – Nxb Văn học, H 1975.
Khi tìm hiểu về Phan Văn Trường, chúng ta dễ nhận thấy giữa ông và Nguyễn An Ninh có mối quan hệ vô cùng gắn bó trên nhiều phương diện. Chí hướng của hai ông bộc lộ khá giống nhau trên các tờ La Clochefe’lêe L’Annam. Cũng như Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh rất có thiện cảm với chủ nghĩa Cộng sản. Ông đã từng bênh vực mạnh mẽ những người theo Đệ tam quốc tế, phê phán dữ dội phái Trôtkít trên một số tờ báo cách mạng thời kỳ Vận động dân chủ (1936 -1939). Rồi có thời kỳ dài ông đã từng sát cánh cùng những đảng viên Cộng sản lỗi lạc như Nguyễn Văn Tạo, Trần Huy Liệu… đấu tranh chống kẻ thù chung. Nhưng cho đến cuối đời, ông vẫn trung thành với Hội kín do mình lập ra, không đứng dưới ngọn cờ của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nguyễn An Ninh đã bỏ ra nhiều năm trời để nghiên cứu và viết sách về tôn giáo (chủ yếu là đạo Phật). Dường như, đã có thời, ông đặt niềm tin vào tôn giáo, coi tôn giáo như là cứu cánh có tính vĩnh cửu đối với loài người nói chung, dân tộc Việt Nam nói riêng. Nếu Hồ Hữu Tường nói đúng thì đã có lần Phan Văn Trường bộc bạch: Các anh rồi sẽ xem. Chủ nghĩa Cộng sản mà sang qua Á Đông mình, thì sẽ chẳng khác gì văn hoá Mông Cổ chinh phục nhà Tống. Về chánh trị, họ sẽ thắng. Còn về mặt văn hoá, chủ nghĩa Cộng sản sẽ bị Phật giáo đồng hoá, chẳng khác gì văn minh Mông Cổ bị văn minh Tầu đồng hoá vậy – Hồ Hữu Tường – Bốn mươi mốt năm làm báo – Hồi ký – Nxb Trí Đảng – S – 1972. Những dòng hồi ký trên cần phải kiểm chứng lại, nhưng có một thực tế là, cũng giống với Nguyễn An Ninh, suốt cuộc đời mình Phan Văn Trường không (hoặc chưa có điều kiện) gia nhập đội ngũ những người Cộng sản. Có lẽ, do nhận ra sai lầm của mình, trong một bài phát biểu tại Sài Gòn Phan Văn Trường đã khảng khái thừa nhận: Tương lai của nước ta có được cái gì chỉ là nhờ Nguyễn Ái Quốc. Và cũng cần phải nói thêm là, đúng vào thời điểm Đảng CSVN ra đời (3.2.1930) Phan Văn Trường bị tù ở Pháp. Sau khi ra tù được hơn một năm thì ông mất. Giá như ông sống thêm được ít năm nữa, rất có khả năng ông sẽ có sự chuyển biến về tư tưởng, đi theo con đường Nguyễn Ái Quốc lựa chọn.

MỘT NGÒI BÚT YÊU NƯỚC CHÂN CHÍNH
Trước khi sang Pháp, Phan Văn Trường đã là một trong những nhân vật quan trọng của trường Đông Kinh nghĩa thục. Tuy nhiên, cũng như phần lớn những nhà yêu nước thời đó đều chưa biết hoặc chưa có khả năng sử dụng báo chí làm phương tiện đấu tranh. Tới Paris thời gian đầu, có lẽ quá bận rộn với việc học tập nên ông cũng không có điều kiện hoạt động báo chí. Cho đến nay, chưa có tư liệu nào cho biết thời điểm Phan Văn Trường bắt đầu làm báo. Chỉ biết rằng khoảng những năm 20 của thế kỷ trước các bài báo của nhóm Ngũ Long (mà Phan Văn Trường là một thành viên) đã để lại dấu ấn đậm đà trong lòng bà con Việt kiều. Khi tờ LeParia (Người cùng khổ – Cơ quan ngôn luận của Hội Liên hiệp thuộc địa) ra đời, bút danh Phan đã nhanh chóng được bạn đọc tiếp nhận. Việc Phan Văn Trường viết tất cả bao nhiêu bài cho LeParia rất khó xác định bởi vào thời đó các nhà cách mạng Việt Nam thường dùng nhiều bút danh hoặc đơn giản là không ký gì cả. Hai ông Nguyễn Phan Quang – Phan Văn Hoàng đã phải mất rất nhiều công sức mới sưu tầm được khoảng chục bài của Phan Văn Trường trên báo LeParia. Hy vọng trong tương lai danh sách này sẽ được bổ sung thêm để chúng ta có cơ sở hoàn chỉnh hoá sự nghiệp cầm bút của Phan Văn Trường.
Căn cứ ở những gì hiện có, chúng ta thấy, trên LeParia, Phan Văn Trường chủ yếu viết theo thể chính luận. Nếu như Nguyễn Ái Quốc có giọng văn dân dã, dễ hiểu, xoáy vào trọng tâm vấn đề, bộc lộ ngay thái độ chính kiến thì Phan Văn Trường lại khác. Ông hay sử dụng phương ngôn, điển tích phương Tây và những kiến thức luật pháp để diễn giải những nội dung chính trị – xã hội. Có những lúc ông diễn giải xa xôi bóng gió, mượn xưa để nói nay, mượn chuyện người để nói chuyện của ta, dùng nhiều thuật ngữ khoa học, dễ gây cảm giác chúng được viết để phục vụ tầng lớp trí thức, công chức thì sẽ thích hợp hơn. Đọc những bài “Chống Pháp” trong từ ngữ thực dân, Một câu hỏi, Cọng rơm và xà nhà, Lễ Quốc khánh của nước Nam… ta dễ nhận thấy chúng chủ yếu mang âm hưởng châm biếm, phê phán chính sách cai trị của nhà cầm quyền thực dân, ít mang tính tố cáo, đả kích. ẩn sau tiếng cười là sự chua xót, sâu cay của một tâm hồn nặng lòng với Tổ quốc, với nhân dân. Nội dung bài nào cũng thế, bao giờ Phan Văn Trường cũng vạch rõ ranh giới giữa cái thiện với cái ác, giữa tầng lớp thống trị và bị trị, giữa cái tốt với cái xấu. Đây chính là biểu hiện của một đức tính bộc trực, ngay thẳng, không dễ bị ngả nghiêng trước giông bão, cường quyền. Dù ở nước ngoài hay trong nước, ngay từ rất sớm, ông đã xác định rõ kẻ thù chính của dân tộc ta là bè lũ thực dân đế quốc: Một người không phải là người Pháp mà là chống Pháp nếu như anh ta chứng minh bằng những chứng cớ không thể chối cãi rằng ở Đông Dương, chính phủ Pháp thích giữ dân bản xứ trong cảnh ngu dốt bằng một hệ thống ngu dân khôn khéo. Cũng là chống Pháp những ai dám nói rằng nhà cầm quyền Pháp đầu độc nòi giống Việt nam một cách từ từ nhưng chắc chắn bằng cách tọng cho họ nào rượu cồn nào thuốc phiện. Cũng là chống Pháp những ai dám xác nhận rằng trong cái thuộc địa của Pháp, những vụ người Âu giết dân bản xứ không bao giờ bị trừng phạt. Nói tóm lại: Là chống Pháp tất cả những ai có can đảm phản đối chế độ nô lệ tập thể này, cũng là bản chất thực dân với những tội ác chưa từng thấy của nó… LeParia số 12 tháng 2.1923. Sinh ra và lớn lên trong nỗi khổ nhục của một người dân mất nước, Phan Văn Trường thấu hiểu rất rõ giá trị của độc lập tự do. Tuy nhiên, vì đã nhiều lần ra tù vào tội nên ông rất thận trọng khi đưa ra chính kiến của mình. Ông ít khi dùng từ mạnh dễ kích động nhà cầm quyền. Những vấn đề tưởng chừng hết sức to tát lại được ông diễn tả nhẹ nhàng, thâm thuý, thấu tình đạt lý khiến người đọc luôn phải ngẫm ngợi. Sau khi đề cập đến việc pháp luật của một số quốc gia cấm hút thuốc phiện và tiêu thụ rượu cồn, Phan Văn Trường nhấn mạnh: …Thế nhưng chính phủ thực dân Pháp lại tiếp tục cho phép đầu độc một cách có hệ thống dân Việt Nam bằng một lượng rượu cồn và thuốc phiện chưa từng thấy, do chính quyền tự xưng là bảo hộ và khai hoá đứng ra bán. Nhân danh luật pháp Thổ Nhĩ Kỳ, chúng tôi yêu cầu ông Bộ trưởng Bộ thuộc địa Pháp vui lòng cho chúng tôi biết: Với tư cách là người đứng đầu chính quyền thực dân, ông đáng bị đánh gậy như thế nào vì tội ác ghê tởm đó” – LeParia số 14 – tháng 5.1923. Chỉ với mấy dòng ngắn ngủi Phan Văn Trường đã vạch ra bản chất xấu xa của nhà cầm quyền thực dân. Nhờ “Nói có sách mách có chứng” mà người Pháp dù rất ghét ông nhưng cũng không làm gì được ông. Nhân việc thực dân Pháp lấy ngày vua Gia Long lên ngôi làm ngày quốc khánh ngay lập tức Phan Văn Trường có bài Lễ Quốc khánh của nước Nam. Ông đã phê phán một cách ý vị trò mị dân kịch cỡm của người Pháp, đồng thời tố cáo những thối nát của chế độ phong kiến Việt Nam. Cũng qua đây ông bày tỏ thái độ đứng về phía những vị vua có tinh thần yêu nước đang bị đày ải nơi đất khách quê người: Các bạn làm lễ cho một người đã chết, như thế là tốt. Có lẽ con người đã chết này không quan tâm gì về việc đó, và có thể từ dưới đáy mồ, người chết chỉ mong bạn đừng nói gì về triều đại của ông ta cũng như về những gì tiếp theo sau đó. Nhưng tại sao các bạn lại không đồng thời làm lễ cho những người còn sống như Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân, ba vị vua của các bạn, tuy các ngài chưa qua thế giới bên kia nhưng các ngài bị cách ly rất xa các bạn bởi cái chính quyền, mà theo các bạn, là hiện thân của thiện tâm và công lý” – LeParia số 21 tháng 12.1923.
Nói chung, các bài viết của Phan Văn Trường trên LeParia mới chỉ dừng ở việc tố cáo chính sách cai trị hà khắc của nhà cầm quyền thực dân và triều đình phong kiến Việt Nam mà chưa bộc lộ rõ quan điểm đấu tranh đòi cải cách, dù là cải cách xã hội của ông. Đây cũng là hạn chế của nhiều cây bút yêu nước thời bấy giờ.
Khi về nước và đặc biệt kể từ lúc giữ chân Chủ nhiệm LaClochefêle’e (Chuông rè) thì lập trường đấu tranh của Phan Văn Trường đã có những bước tiến đáng kể. Ngoài Nguyễn An Ninh ra, Phan Văn Trường là người viết nhiều nhất cho báo này. Như chúng ta đã biết, khi chiến tranh thế giới lần thứ nhất chuẩn bị nổ ra A. Sarraut sang làm Toàn quyền Đông Dương đã đưa ra chủ thuyết Pháp – Việt đề huề Pháp – Việt nhất gia. Nếu xét trên bề nổi, công bằng mà nói, chính sách cai trị mềm dẻo của ông này đã tạo ra nhiều thay đổi về nhiều mặt ở nước ta. Đến thời Varene làm Toàn quyền Đông Dương chủ thuyết này lại được hoàn chỉnh thêm. Việc làm này của người Pháp đã tạo ra sự ngộ nhận ở nhiều người, trong đó có cả các bậc chí sĩ nổi tiếng yêu nước. Có người viết thư gửi nhà cầm quyền (có tờ báo đã đăng lại), làm thơ tán tụng và xin Varene đừng bỏ rơi xứ An Nam, người thì coi thực dân Pháp như những người bạn đáng tin cậy, thậm chí còn khuyên dân chúng nên học lấy cái đạo đức của A. Sarraut, của Varene. Có thể nói, đây là thời kỳ tư tưởng của người dân bị đầu đọc rất nặng nề. Nếu như ở nước ngoài, vào giữa thập niên 20 của thế kỷ trước, Nguyễn Ái Quốc đã nhiều lần vạch trần tính chất giả nhân giả nghĩa của nhà cầm quyền thực dân thì ở trong nước, tờ La Clochefêle’e đã đi tiên phong trong vấn đề này. Phan Văn Trường đã từng phê phán chủ trương hợp tác, châm biếm chính sách liên kết đậm chất mị dân: Ngài Toàn quyền vốn là một luật sư nhà nghề chắc không thể không biết rằng một sự hợp tác chỉ có thể tồn tại về mặt pháp lý nếu nó được ký kết một cách hoàn toàn tự do giữa hai bên giao ước với nhau; Và bởi vậy, trong vấn đề chúng ta đang quan tâm, một sự hợp tác như thế chỉ có giữa hai cường quốc hoàn toàn độc lập với nhau. Nhưng ở đây chắc ông Varene và bất kỳ chính khách Pháp nào khác cũng đều không có ý định trả lại độc lập mà ngay cả việc ban bố các quyền tự do cho báo chí quốc ngữ ông Varene cũng kiên quyết bảo không được. Vậy thì sự hợp tác mà ông Varene nói với chúng ta chỉ là sự hợp tác thuần tuý trong trí tưởng tượng – Diễn văn đầu tiên của ông Varene: ý kiến – thành kiến – nguỵ biện – La Clochefêle’e số 23 ngày 7.12.1926. Không dừng lại ở đó Phan Văn Trường còn vạch rõ mưu mô, thủ đoạn chính trị của nhà cầm quyền: Ông Varene có thể thực thi vài cải cách nho nhỏ và những cải cách như vậy thì không thể nào thay đổi cái chế độ hiện hành. Rồi những ông toàn quyền kế tiếp sẽ tuỳ thời mà xiết vào hay nói ra một chút cái đinh ốc thực dân, đồng thời sẽ cho người Việt Nam nghe no lỗ tai những bài diễn văn mới và những lời hứa mới – La Clochefêle’e số 57 ngày 15.4.1926. Dưới con mắt một nhà Luật học, theo Phan Văn Trường, bản chất xã hội Việt Nam dưới thời Pháp thuộc là chế độ Pháp trị chuyên chế. Mọi văn bản được ban hành đều nhằm phục vụ tầng lớp thống trị, làm bần cùng hoá người bản xứ. Các con số ông đưa ra tuy không nhiều nhưng bao giờ cũng rất giàu hình ảnh và có tầm khái quát cao. Điều tệ hại là cả một dân tộc 20 triệu người phải đổ mồ hôi sôi nước mắt quanh năm suốt tháng để nuôi béo mấy ngàn quan chức thực dân, để chúng làm mỗi một công việc là đè dầu cưỡi cổ dân bản xứ và ngốn hết tám phần mười ngân sách – La Clochefêle’e số 57 ngày 15.4.1926. Phần lớn các bài viết của Phan Văn Trường trên La Clochefêle’e đều nhằm phơi bày những mặt trái xã hội. Ông tập trung vào phân tích những quyền cơ bản mà người Việt Nam bị tước đoạt như: Không được tự do đi lại, không được tự do ngôn luận, không được tham gia các vấn đề chính trị quan trọng của đất nước, phải thực hiện các chế độ thuế khoá, phu dịch khủng khiếp, bị phân biệt đối xử, tính mạng, tài sản con người không được coi trọng, bị ngu dân và bần cùng hoá…
Hoạt động nổi đình đám nhất của Chuông rè là trong những số cuối cùng (4.1926) báo đã đăng Tuyên ngôn Cộng sản của Mác - Ăngghen. Đây là việc làm táo bạo lần đầu xuất hiện ở Việt Nam. Nó là tiếng sấm rền báo hiệu cơn giông bão sắp đến. Kẻ thù hoảng hốt vội ra lệnh đóng cửa tờ báo (số 62 ngày 3.5.1926). Không chịu bó tay, Phan Văn Trường xin phép ra tờ báo khác. Ngày 6.5.1926 L’Annam ra đời, đánh số 63, vẫn do Phan Văn Trường làm chủ nhiệm. Lần này, ngoài Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh, báo còn nhận được sự cộng tác tích cực của một số nhân sĩ như Nguyễn Khánh Toàn, Nguyễn Ngọc Thoại, Lưu Văn Lang, Luật sư Monin… Số bài viết của Phan Văn Trường trên báo này nhiều hơn so với La Clochefêle’e. Điều này cho thấy vai trò của Phan Văn Trường đối với L’Annam là rất lớn. Nói chung, xét cả hình thức lẫn nội dung L’Annam không khác La Clochefêle’e nhiều lắm. Điều đáng lưu ý là L’Annam không dừng lại ở mức công kích chính sách cai trị của nhà cầm quyền mà tập trung vào đấu tranh đòi thực dân Pháp phải tiến hành những cải cách xã hội. Sức đấu tranh của tờ báo nay diễn ra rất mạnh mẽ khiến nhà cầm quyền nhiều lần lớn tiếng đe doạ, khám xét toà soạn. Có lần cả Ban Biên tập đã bị bắt giam. Sự đàn áp dã man của kẻ thù vẫn không ngăn cản được Phan Văn Trường và các đồng chí của ông cất tiếng nói đòi công lý. Tờ báo đã nhận được sự ủng hộ của đông đảo nhân dân cả nước. Tuy nhiên do những hạn chế về mặt lịch sử, cả hai tờ báo do Phan Văn Trường tham gia điều hành mới chỉ dừng ở mức độ báo chí yêu nước. Chúng chưa vươn tới tầm của báo chí cách mạng do chưa xác định được cho mình nhiệm vụ đấu tranh đánh đổ chế độ thực dân, giành lại độc lập dân tộc, từ đó xây dựng nên một xã hội mới.
Dù thế nào, thì hai tờ La Clochefêle’e và L’Annam cũng đã làm vẻ vang cho dân tộc ta. Và Phan Văn Trường một trí thức yêu nước, một cây viết suốt đời tận tuỵ với lợi ích dân tộc, xứng đáng được mọi thế hệ Việt Nam tôn vinhr

1- GS Nguyễn Phan Quang - Phan Văn Hoàng: Luật sư Phan Văn Trường. Nxb TP Hồ Chí Minh. H. 1995.
2- TS Thu Trang. Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp 1911-1925. NxbVăn nghệ TP Hồ Chí Minh. 2000.
3- Hồ Hữu Tường. Bốn mươi mốt năm làm báo. Nxb Trí Đăng. S. 1972…

Nguyễn Văn Tạo: mênh mang một thoáng hương lòng vì ai!


Cuối năm 1946, tại phiên họp thứ 2 của Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, thay mặt người dân Nam bộ, một vị đại biểu rất trẻ đã vinh dự đọc lời chúc mừng. Bằng giọng văn khi hùng hồn, sục sôi khi tha thiết, tác giả đã phơi bày tội ác của thực dân Pháp đối với hơn 5 triệu người dân Nam bộ, những người đang từng ngày, từng giờ đổ máu bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ. Bài diễn văn vừa kết thúc, Hồ Chủ tịch tiến nhanh lên diễn đàn ôm chặt lấy tác giả. Trên gò má của Người chan chứa những giọt nước mắt nóng bỏng. Diễn giả khiến Bác Hồ phải rơi lệ chính là đồng chí Nguyễn Văn Tạo, một nhà báo lỗi lạc của Đảng ta.Một người Việt là Uỷ viên Trung ương Đảng Cộng sản Pháp


Nguyễn Văn Tạo sinh ngày 20.5.1908 tại làng Phước Long, tổng Long Hưng Hạ (Chợ Lớn), trong một gia đình có truyền thống Hán học. Cụ thân sinh là Nguyễn Văn Tuân, được làng cử làm Hương văn, đồng thời có thêm nghề mộc. Thân mẫu của Nguyễn Văn Tạo là Huỳnh Thị Huyền. Nguyễn Văn Tạo là con út trong gia đình, trên ông còn có nhiều anh chị nhưng đều không nuôi được. Người mẹ đã chết khi vừa sinh ra ông. Người cha cũng mất sau đó mấy năm, Nguyễn Văn Tạo về ở với người chú tên là Nguyễn Văn Kiệt. Thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu tình thương của những người ruột thịt, đã lấy đi của ông bao điều đẹp đẽ của tuổi ấu thơ. Sống trong cô đơn, thiếu thốn, Nguyễn Văn Tạo chỉ còn biết chúi đầu vào cuốn “Không gia đình” của Hecto Malo. Ông như tìm thấy mình ở trong đó.
Sống với người chú, Nguyễn Văn Tạo tỏ ra khôn ngoan và chín chắn hơn so với những đứa trẻ cùng trang lứa. Ông không ham chơi, ngoài giờ học, ở nhà phụ giúp người lớn việc nhà. Từ khi còn rất nhỏ, ông đã nổi tiếng giỏi và chăm học nên luôn được học bổng. Chuyển lên trung học, Nguyễn Văn Tạo thi đỗ vào trường Chasseloup Loubat, học cùng với đám con Tây. Chính tại ngôi trường này, ông đã rút ra được nhiều điều. Trước hết, ông thấy bất bình về việc học sinh Việt Nam nhưng phải nghe giảng bằng tiếng Pháp. Tiếng Việt bị coi là ngoại ngữ, mỗi tuần chỉ được học 2 giờ. Bị giam hãm trong 4 bức tường trường học nhưng tình cảm và trái tim Nguyễn Văn Tạo luôn bay bổng ở bên ngoài. Khi có điều kiện là ông cùng chúng bạn trốn học tham gia các phong trào đấu tranh sục sôi của các tầng lớp nhân dân lao động. Ở đâu có Nguyễn An Ninh diễn thuyết là ở đó có mặt ông. Về đến trường, ông kể lại rành rẽ cho chúng bạn nghe, góp phần giác ngộ tinh thần yêu nước cho họ. Nhiều người sau này đã tìm đến với cách mạng.
Vào những năm 1925-1926, ở Việt Nam xảy ra nhiều biến cố lớn. Phan Chu Trinh về nước và mất tại Sài Gòn đã gây tiếc thương trong dân chúng. Nhân dân cả nước đã tổ chức để tang ông. Phan Bội Châu bị bắt và bị đưa về nước xét xử. Khắp xứ Đông Dương sục sôi phong trào đấu tranh đòi người Pháp phải thả nhà chí sĩ. Rồi Nguyễn An Ninh, thần tượng của thanh niên Nam kỳ cũng bị kẻ thù bắt giam. Hành động này như sự bóp nghẹt cuối cùng những ấm ức dồn nén bao lâu nay trong dân chúng. Cả Nam kỳ xuống đường đấu tranh. Và đi trong hàng ngũ đó luôn có mặt cậu học trò có dáng vẻ thấp nhỏ Nguyễn Văn Tạo. Ông là một trong những người bị nhà cầm quyền thực dân liệt vào hạng cầm đầu và bị đuổi học. Nguyễn Văn Tạo không thể về quê vì sợ liên lụy đến người chú, mà ở lại Sài Gòn thì rất khó kiếm được việc làm, ông quyết định tìm đường sang Pháp tiếp tục sự nghiệp học hành, và để được gặp một nhân vật nổi tiếng: Nguyễn Ái Quốc.
Nhờ số tiền của người chú cho và sự giúp đỡ của bạn bè, Nguyễn Văn Tạo được bí mật đưa lên con tàu Chanilly. Sau hàng tháng trời lênh đênh trên biển, cuối cùng, ông cũng tới được Marseill, được đưa về Aix en Provence. Được sự bảo lãnh của ông Huỳnh Văn Vạn, Hội trưởng Hội ái hữu người Việt, Nguyễn Văn Tạo được nhận vào học tiếp tại trường trung học Lycée mignet. Để có tiền ăn học, ông được Nguyễn Văn Trân giới thiệu làm công việc trông trẻ. Và cũng chính tại đây, Nguyễn Văn Tạo được giác ngộ, trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Pháp (cuối năm 1926). Gần một năm sau, Nguyễn Văn Tạo mới có điều kiện lên Paris. Rất tiếc là, ông đã không được gặp Nguyễn Ái Quốc. Nhờ các đồng chí giới thiệu, Nguyễn Văn Tạo xin được việc làm tại xưởng sơn mài Duhand. Khi có việc làm ổn định, ông đăng kí vào Đại học Văn khoa. Tại đây, ông được các đảng viên người Pháp, người Việt rất tín nhiệm, quí trọng, đề cử lên làm việc tại Văn phòng Trung ương Đảng Cộng sản Pháp, chuyên theo dõi các phong trào thuộc địa. Nhờ hoạt động rất xông xáo, Nguyễn Văn Tạo được Đảng giao nhiệm vụ thường xuyên đi về các tỉnh để gây dựng, tổ chức phong trào trong cộng đồng người Việt. Đây là dịp để ông làm quen, thân thiết với nhiều nhà cách mạng lỗi lạc như Trần Văn Hiển, Dương Bạch Mai, Trần Văn Giàu, Nguyễn Văn Dực… Chỉ mới gần 2 năm ở nơi xứ người, Nguyễn Văn Tạo đã gây dựng được cho mình chỗ đứng vững chắc trong Đảng Cộng sản Pháp, là đại biểu chính thức tại các cuộc họp quan trọng của Đảng. Tháng 8.1928, Nguyễn Văn Tạo được tham gia cùng phái đoàn Pháp sang Mát-xcơ-va dự đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ VI. Tại đây, với bí danh An, thay mặt những người dân thuộc địa, ông đã đọc một bản tham luận nổi tiếng, phơi bày những nỗi thống khổ mà người dân thuộc địa đang phải gánh chịu. Tại kì Đại hội này, Nguyễn Văn Tạo đề nghị Quốc tế Cộng sản tạo điều kiện cho việc thành lập một chính Đảng Cộng sản tại Việt Nam: “Điều bức thiết là chúng tôi phải có một tổ chức cách mạng có tính chất quần chúng để chúng tôi trở nên đội tiên phong của phong trào cách mạng Đông Dương”. Và bản tham luận của Nguyễn Văn Tạo đã được đưa vào nghị quyết của Đại hội. Cũng trong dịp này, Nguyễn Văn Tạo có dịp gặp và làm quen với các nhà cách mạng lớn người Việt như Trần Phú, Nguyễn Thế Rục, Bùi Công Trừng, Nguyễn Khánh Toàn, những người đang theo học trường Phương Đông tại Mát-xcơ-va.
Sau Đại hội VI Quốc tế Cộng sản, Đảng Cộng sản Pháp có những thay đổi về mặt nhân sự. Một số Ủy viên Trung ương được bầu bổ sung và Nguyễn Văn Tạo đã trúng với số phiếu khá cao. Như vậy là, ngoài Nguyễn Ái Quốc (một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp), Nguyễn Văn Tạo là người đầu tiên và duy nhất trở thành Uỷ viên Trung ương Đảng Cộng sản Pháp tính tới thời điểm đó. Từ đây, ông có nhiều hoạt động tích cực đóng góp chung cho sự phát triển của Đảng bạn, được các đồng chí người Pháp đánh giá cao.
Đầu những năm 1930, tình hình chính trị trong nước có nhiều diễn biến phức tạp. Cuộc khởi nghĩa ở Yên Bái do Việt Nam Quốc dân đảng tổ chức đã gây chấn động dư luận trong và ngoài nước. 13 yếu nhân của đảng này bị bắt và bị đưa lên đoạn đầu đài. Cũng vào dịp này, Đảng Cộng sản Đông Dương được thành lập đã gây những mối lo ngại không nhỏ cho nhà cầm quyền thực dân. Rồi phong trào Xô-viết Nghệ Tĩnh xảy ra sau đó ít tháng là những lí do để người Pháp tiến hành cuộc khủng bố đỏ kéo dài mấy năm trời. Không ít chiến sỹ cách mạng ưu tú của chúng ta đã ngã xuống. Hoà chung với không khí đấu tranh trong nước, sinh viên và người lao động Việt Nam tại Pháp nhiều lần xuống đường đòi nhà cầm quyền thả những nhà cách mạng tham gia vụ khởi nghĩa Yên Bái, đòi cải thiện tự do, dân chủ, dân sinh… Đáng chú ý nhất là cuộc biểu tình trước điện Elysee của hơn 200 sinh viên người Việt Nam. Hàng chục người bị bắt. 19 sinh viên cốt cán bị trục xuất về nước. Nguyễn Văn Tạo cũng bị bắt, nhưng bị giam giữ tại ngục Santé. Vì không đủ chứng cớ, nhà cầm quyền không thể đưa ông ra xét xử. Nhờ sự đấu tranh mạnh mẽ, dai dẳng của các đồng chí ở bên ngoài, sau 8 tháng, người Pháp buộc phải thả ông. Nếu để Nguyễn Văn Tạo tiếp tục ở Paris sẽ có nhiều bất lợi, nhà cầm quyền quyết định bắt cóc Nguyễn Văn Tạo, đưa ông lên một con tàu của quân đội chở về Việt Nam. Cảm thấy mình có thể bị thủ tiêu trên biển, ông đã tìm cách liên lạc được với các đồng chí Pháp trên đất liền. Hàng loạt bài báo vạch trần thủ đoạn của nhà cầm quyền đối với Nguyễn Văn Tạo được báo L’ Humanité đăng tải đã buộc kẻ thù phải thay đổi ý đồ. Nguyễn Văn Tạo đã về đến Việt Nam an toàn một phần nhờ lá thư của Trung ương Đảng Cộng sản Pháp đề ngày 3.5.1931 “Hãy cứu đồng chí Nguyễn Văn Tạo của chúng ta” được gửi đi khắp thế giới.
Ngày 29.5.1931, Nguyễn Văn Tạo về đến Sài Gòn. Đảng Cộng sản pháp đã cử một luật sư sang Việt Nam theo dõi tình hình, đề phòng nhà cầm quyền thực dân có những thủ đoạn đê hèn đối với ông. Do Nguyễn Văn Tạo cũng như Dương Bạch Mai, Trần Văn Hiển, Nguyễn Văn Trân đều là đảng viên Đảng Cộng sản Pháp nên nhà cầm quyền không dám đàn áp trắng trợn; tức tối nhìn các ông hoạt động công khai mà không làm gì được, chỉ có thể cử người theo dõi ngầm.
Năm 1933, được sự động viên của các đồng chí và nhất là của chí sĩ Nguyễn An Ninh, Nguyễn Văn Tạo ra ứng cử Hội đồng thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn. Nguyễn Văn Tạo và Trần Văn Thạch trúng với số phiếu rất cao. Lấy lí do Nguyễn Văn Tạo chưa đủ 27 tuổi và Trần Văn Thạch chưa nộp thuế môn bài, người Pháp đã gạt hai ông ra khỏi danh sách trúng cử. Mặc dù không đạt được ý nguyện, nhưng thất bại này là những bài học hết sức quý giá cho cuộc đấu tranh nghị trường của Đảng ta trong những năm sau này.
Hai năm sau, tháng 5 năm 1935, tình hình Đông Dương có nhiều đổi khác. Mặt trận Nhân dân ngày càng lớn mạnh, khẳng định vị thế chính trị của mình tại Pháp. Chính quyền thực dân ở Đông Dương không còn dám đàn áp trắng trợn các phong trào cách mạng như trước. Đảng Cộng sản Đông Dương cũng từng bước ra công khai. Phong trào Vận động dân chủ bước đầu được nhen nhóm, tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân tham gia. Đây cũng là lúc diễn ra cuộc bầu cử Hội đồng quản hạt Nam kỳ. Một lần nữa Nguyễn Văn Tạo ra tranh cử. Nhờ sự vận động mạnh mẽ của hệ thống báo Đảng, Nguyễn Văn Tạo, Dương Bạch Mai và một số người khác đã trúng cử với số phiếu rất cao.
Bước sang năm 1936, diễn biến chính trị trong và ngoài nước có nhiều thuận lợi cho Đảng Cộng sản Đông Dương. Ngày 29.7.1936, Nguyễn An Ninh viết bài trên báo La Lutte (Tranh đấu) kêu gọi tổ chức Đông Dương đại hội. Hành động này đã nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của những người cộng sản. Uỷ ban trù bị được thành lập. Nguyễn Văn Tạo được bầu phụ trách tiểu ban tuyên truyền. Chỉ trong thời gian ngắn, hàng trăm uỷ ban Hành động được lập ở khắp Nam kỳ. Các Uỷ ban hoạt động rầm rộ khiến nhà cầm quyền hết sức lúng túng, lo ngại. Ngày 15.9.1936, Thống đốc Nam kỳ Pagès ra lệnh giải tán các Uỷ ban Hành động. Và chỉ trong mấy ngày cuối tháng 9 đầu tháng 10, lần lượt các ông Tạ Thu Thâu, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Văn Tạo bị nhà cầm quyền bắt giam. Phong trào đấu tranh của nhân dân và các tổ chức xã hội đòi thả các ông bùng phát khắp Nam kỳ. Phối hợp với bên ngoài, 3 ông quyết định tuyệt thực từ 26.10 đến 5.11.1936, buộc nhà cầm quyền phải nhượng bộ, thả cả 3 người. Nhằm làm giảm bớt vai trò chính trị của các ông, ngày 23.12.1936, Tối cao pháp viện đã ban hành văn bản bác bỏ kết quả trúng cử vào Hội đồng Quản hạt Nam kỳ của Nguyễn Văn Tạo, Dương Bạch Mai, Tạ Thu Thâu. Mặc dù liên tục bị nhà cầm quyền tìm cách cản trở, hãm hại, Nguyễn Văn Tạo vẫn xông xáo hoạt động, đi về các vùng quê tập hợp dân nguyện. Vào dịp Thanh tra lao động của Chính phủ Mặt trận Bình dân tới Sài Gòn (1.1.1937), Nguyễn Văn Tạo cùng Tạ Thu Thâu, Trần Văn Thạch đã tập hợp hàng nghìn người dân đi đón Justin Godard, đưa những yêu sách của dân chúng Đông Dương. Nhân dịp nhà cầm quyền tổ chức bầu cử bổ sung cho Hội đồng thành phố (25.4.1937), cả 3 người bị bãi miễn trước đó lại ra ứng cử và tiếp tục giành thắng lợi vang dội.
Ngày 19.5, Nguyễn Văn Tạo lại bị bắt giam về tội “Có những hoạt động có tính chất vi phạm an ninh công cộng, lợi dụng những rối loạn chính trị gây sự hằn thù với chính quyền Pháp”. Cùng bị bắt với ông trong dịp này còn có Nguyễn An Ninh và Tạ Thu Thâu. Nhờ sức đấu tranh mạnh mẽ từ bên ngoài, hơn nữa nhà cầm quyền cũng không tìm được chứng cớ buộc tội, ngày 7.6.1937, Toà Thượng thẩm Sài Gòn kí giấy tạm tha cho 3 ông sau khi nộp tiền bảo lãnh 50 đồng mỗi người. Ngày 2.7, các ông lại bị đưa ra xét xử tại toà Tiểu hình và Nguyễn Văn Tạo bị kết án 2 năm tù. Tất cả đều kháng án lên toà Thượng thẩm, nhưng lần này thất bại. Nguyễn Văn Tạo, Trần Văn Hiển, Trần Văn Quảng, Tạ Thu Thâu, Nguyễn Văn Số quyết định cuộc tuyệt thực kéo dài 20 ngày. Sức khoẻ của các ông suy sụp rất nhanh. Có thời gian, nhà cầm quyền phải đưa các ông đi cấp cứu tại bệnh viện Chợ Quán. Ngày 10.11, toà Thượng thẩm vẫn giữ nguyên mức án cũ. Trước áp lực vô cùng mạnh mẽ và dai dẳng của dư luận, tháng 2.1939, nhà cầm quyền thực dân buộc phải thả Nguyễn Văn Tạo trước kì hạn nhưng cấm ông không được lai vãng đến 3 khu vực Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định. Nguyễn Văn Tạo bị buộc về cư trú tại Long Hải. Nhờ sự giúp đỡ của ông Hội đồng Nguyễn Công Tồn, tháng 4.1939, Nguyễn Văn Tạo chuyển đến Mỹ Tho.
Nguyễn Văn Tạo mới được hưởng không khí tự do chưa đầy 5 tháng thì chiến tranh thế giới lần thứ II nổ ra. Chính phủ cực hữu lên cầm quyền ở Pháp đã đặt Đảng Cộng sản và một số đảng phái cánh tả ra ngoài vòng pháp luật. Hàng loạt đảng viên cộng sản và những nhà cách mạng ở Đông Dương bị bắt, trong đó có Nguyễn Văn Tạo. Ông bị xử 4 năm tù (tháng 7.1940, toà Thượng thẩm xử lại giảm xuống còn 2 năm), đày ra Côn Đảo cùng với nhiều đồng chí thân thiết như Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn An Ninh, Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Nguyễn… Chiến tranh kéo dài, đến năm 1944, Nguyễn Văn Tạo được thả nhưng vẫn phải chịu án biệt xứ 10 năm. Ông về Rạch Giá (Kiên Giang) phụ giúp vợ buôn bán nước mắm, chờ thời. Tại đây, ông đã bắt được liên lạc với Đảng, tiếp tục hoạt động bí mật. Cách mạng tháng Tám bùng nổ, Nguyễn Văn Tạo là một trong những yếu nhân lãnh đạo cuộc khởi nghĩa ở Nam bộ. Đêm 24 rạng sáng 25.8.1945, Sài Gòn - Gia Định - Chợ Lớn về tay chính quyền nhân dân, Uỷ ban Hành chính Lâm thời Nam bộ (Lâm uỷ Nam bộ) được thành lập do ông Trần Văn Giàu làm Chủ tịch, Nguyễn Văn Tạo được đề cử giữ chức Ủy trưởng Nội trị (phụ trách các mảng nhân sự, an ninh).
Đúng vào thời khắc nước sôi lửa bỏng này, Nguyễn Văn Tạo bị tai nạn giao thông. Nằm trên giường bệnh, ông vẫn tiếp tục điều hành công việc hết sức trôi chảy. Cuộc kháng chiến chống Pháp của đồng bào Nam bộ bùng nổ (23.9.1945), nhiều cơ sở trọng yếu của Đảng, Chính quyền phải rút về các chiến khu. Nguyễn Văn Tạo trở lại Rạch Giá. Đầu năm 1946 cuộc Tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà diễn ra trên cả nước. Nguyễn Văn Tạo là một trong bốn người trúng cử thuộc địa bàn Rạch Giá. Ông cùng nhiều đại biểu Nam bộ được triệu tập ra Bắc họp phiên đầu tiên của Quốc hội khoá I, nhưng do đường sá xa xôi lại bị ngăn trở bởi thực dân Pháp, nên 8 tháng sau đoàn mới ra tới nơi, kịp dự phiên họp thứ 2 (cuối năm 1946). Tại diễn đàn lần này, Nguyễn Văn Tạo đã có bài diễn văn chào mừng Quốc hội khiến Hồ Chủ tịch hết sức xúc động. Cũng tại phiên họp này, Nguyễn Văn Tạo đã trình bày trước Quốc hội bộ Luật Lao động. Và ngày 3.11.1946, ông được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Lao động.
Ngày19.12.1946, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ trên phạm vi toàn quốc. Bộ Lao động và Chính phủ phải di chuyển khỏi Hà Nội. Ngày 17.3.1947, Hồ Chủ tịch kí Sắc lệnh giao cho Nguyễn Văn Tạo kiêm phụ trách công việc tản cư, di cư. Trong cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, hàng vạn con người đã ngã xuống. Không có gia đình nào tránh khỏi đau thương mất mát. Để động viên kịp thời tinh thần chiến đấu, sản xuất của toàn dân, ngày 19.6.1948, Hồ Chủ tịch kí Sắc lệnh kêu gọi Thi đua ái quốc và lập Ban Thi đua Trung ương do Nguyễn Văn Tạo phụ trách. Ban Thi đua đã phát động nhiều phong trào lớn cổ vũ tinh thần giết giặc lập công, tăng gia sản xuất trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân. Nhiều tấm gương tiêu biểu đã được phát hiện, động viên, tuyên truyền kịp thời, tạo tinh thần yêu nước thường trực trong mỗi người.
Hoà bình lập lại, Nguyễn Văn Tạo với cương vị Bộ trưởng Bộ Lao động đã có những đóng góp hết sức to lớn cho công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc, chi viện cho miền Nam. Vì sức khoẻ không tốt nên tháng 10.1965 Nguyễn Văn Tạo được chuyển sang làm Chủ nhiệm Văn phòng Nội chính thuộc Phủ Thủ tướng. Công tác ở bộ phận này được 5 năm, ông lại được điều chuyển làm Chủ nhiệm Uỷ ban Thống nhất Quốc hội. Chưa kịp bắt tay vào công việc mới Nguyễn Văn Tạo bị tai biến mạch máu não và tạ thế ngày 16.8.1970, thọ 62 tuổi.

Khi nghiệp làm báo vận vào thân
Có lẽ Nguyễn Văn Tạo sinh ra là để làm cách mạng, để trở thành một nhà báo cộng sản lỗi lạc. Cuộc đời ông dường như không có lối rẽ lớn. Vừa đặt chân đến đất Pháp, ông đã được kết nạp vào Đảng Cộng sản và có những bước tiến rất nhanh, bền vững trên con đường mình lựa chọn. Khi lên thủ đô Paris hoa lệ, được chứng kiến không khí làm báo của các đồng chí người Việt tại đây, Nguyễn Văn Tạo rất phấn khích. Tiếc rằng ông không được gặp Nguyễn Ái Quốc và tờ Le Paria lúc đó cũng không còn. Những tờ báo như Việt Nam hồn, Hồn Nam Việt, Phục Việt tuy cũng gây được những tiếng vang nhất định trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại, nhưng sự tồn tại của chúng không kéo dài được lâu. Hơn nữa, đường lối đấu tranh của những tờ báo này cũng không rõ ràng, chưa xác định được lực lượng cách mạng, còn đề cao vai trò lịch sử của tầng lớp tư sản và tiểu tư sản nên không nhận được sự ủng hộ của đông đảo quần chúng nhân dân. Trong bối cảnh đó, Nguyễn Văn Tạo đã quyết định ra báo Lao Nông (có sự tham gia tích cực của Trần Văn Hiển, Bùi Đồng). Về sau, báo đổi tên thành Vô Sản. Tiếc rằng cho đến nay chúng ta chưa tìm thấy số nào của tờ báo này.
Khi sống trên đất Pháp (1926-1931), với bút danh Chợ Mới, An, Nguyễn Văn Tạo thường xuyên viết bài cho L’Humanite, Vie Ouvriere. Những bài báo đầu tiên của Nguyễn Văn Tạo thường được các đồng chí Magnien, Gabriel Peri sửa chữa, gợi ý. Chúng chủ yếu đề cập đến tình cảnh khốn cùng của nhân dân Đông Dương, tố cáo tội ác của thực dân Pháp đối với người dân bản xứ, tuyên truyền cho chủ nghĩa cộng sản, đấu tranh đòi nhà cầm quyền thực hiện những cải cách xã hội thuộc địa…
Bị trục xuất về Việt Nam, sau mấy tháng ổn định cuộc sống, tìm hiểu tình hình, Nguyễn Văn Tạo bắt liên lạc được với các bạn bè, đồng chí. Gặp Nguyễn An Ninh, vốn là thần tượng của mình từ tấm bé, Nguyễn Văn Tạo hết sức vui mừng. Vì đều là những nhà cách mạng có tư tưởng lớn, hai ông nhanh chóng trở nên thân thiết. Hai ông bàn bạc và nhất trí với nhau viết bài cho báo Trung lập (số 1 ra ngày 16.1.1924, số cuối ngày 30.3.1933, do Trần Thiện Quí làm chủ nhiệm). Đây là tờ báo trước đó khá nổi tiếng nhờ có sự cộng tác đắc lực của Phan Khôi với bút danh Thông Reo. Báo trở nên èo uột lay lắt khi Phan Khôi chuyển sang làm cho Phụ nữ tân văn (số đầu ra ngày 2.5.1929, số cuối ra ngày 21.4.1935 do bà Nguyễn Đức Nhuận làm chủ nhiệm). Nhờ sự hợp tác của Nguyễn An Ninh và Nguyễn Văn Tạo, báo Trung lập khởi sắc trở lại. Với chiến thuật “Bình cũ rượu mới”, bài của các ông tiếp tục được kí bởi bút danh Thông Reo, đăng trên các chuyên mục có từ trước đó như Mắt thấy tai nghe, Bình luận. Nhờ sự ủng hộ nhiệt thành của bạn đọc, Trung lập nhanh chóng lấy lại vị thế của mình, trở thành một trong những tờ báo bán chạy nhất Nam kỳ. Theo thống kê chưa đầy đủ, sau gần 1 năm làm cho Trung lập (từ 1.7.1932 đến 30.5.1933), Nguyễn Văn Tạo đã viết được hơn 160 bài báo. Không đề cập tới những thói hư tật xấu của con người, những nét sinh hoạt vụn vặt của đời thường như thời của Phan Khôi, hai ông Nguyễn An Ninh, Nguyễn Văn Tạo chú trọng nhiều hơn đến các lĩnh vực chính trị. Bằng giọng văn khi thì châm biếm, trào phúng của Nguyễn An Ninh, lúc lại nghiêm trang, đĩnh đạc, đanh thép của Nguyễn Văn Tạo, các ông đã hé dần cho bạn đọc thấy được nỗi bất công, ngang trái mà chế độ thực dân đế quốc đã đem đến cho đất nước này. Đồng thời, những bài viết của các ông còn dẫn dắt bạn đọc đến với những chân trời cách mạng rực rỡ.
Trên báo Trung lập, các bài viết của Nguyễn Văn Tạo xoay quanh những vấn đề phổ biến trong xã hội Việt Nam lúc đó như: cuộc sống khốn khổ của người thất nghiệp, nỗi cùng cực của người nông dân bị cướp hết ruộng vườn, mức thuế thân đè nặng lên mỗi số phận, nạn cờ bạc, rượu chè, nghiện ngập đang ngày càng làm cho làng quê thêm xơ xác, tình trạng giáo dục trì trệ của nước nhà… Ông cũng chỉ rõ, chính sách cai trị hà khắc của nhà cầm quyền thực dân, lòng tham vô đáy của giới tư bản, đế quốc là những nguyên nhân chính đẩy dân tộc ta đến tình cảnh trên. Ông vạch mặt chỉ tên Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phan Long, những kẻ chủ trương thành lập đảng Lập hiến, đã lợi dụng sự kém hiểu biết của dân chúng để mưu cầu lợi ích riêng, phê phán mạnh mẽ Thống đốc Nam kỳ đã ban hành những chính sách bất lợi cho người nghèo...
Không dừng lại ở những vấn đề trong nước, Nguyễn Văn Tạo rất chú ý đến mảng thời sự quốc tế. Ngoài nội dung kinh tế, những bài bình luận của Nguyễn Văn Tạo đề cập khá sâu sắc diễn biến chính trị tại những khu vực và quốc gia có tầm ảnh hưởng lớn đến thế giới, từ chuyện tranh giành ảnh hưởng giữa đồng Dollar với đồng Sterling, đến việc Hitler lên cầm quyền ở Đức đang ráo riết cùng các đồng minh chuẩn bị chiến tranh. Ngoài ra, ông còn viết về việc Nhật xâm chiếm Mãn Châu, đưa Phổ Nghi lên cầm quyền tại Trung Quốc, chuẩn bị bành trướng sang các khu vực khác của châu Á… Cũng trên báo này, nhân kỉ niệm 50 năm ngày mất của C.Mác, Nguyễn Văn Tạo đã có một bài viết dài khái quát sự nghiệp, tư tưởng chính yếu của người sáng lập ra chủ nghĩa Cộng sản, khẳng định con đường của C.Mác chính là con đường tất yếu để các dân tộc bị áp bức đến với độc lập, tự do.
Trung lập là một trong những tờ báo đầu tiên được Đảng ta sử dụng trong cuộc đấu tranh nghị trường. Trên báo này, trong hai tháng 4 và 5.1932, Nguyễn Văn Tạo đã viết hàng loạt bài có tính chất vận động tranh cử vào Hội đồng thành phố như Tuyển cử Hội đồng thành phố - cứu giúp thất nghiệp, Tuyển cử Hội đồng thành phố - Nói chuyện pháp luật… Nội dung những bài viết này không chỉ tuyên truyền nhằm thu hút lá phiếu cho người cộng sản, mà qua đây giúp đồng bào hiểu rõ hơn quyền lợi, trách nhiệm xã hội của mình. Đây cũng là dịp để người dân biết phân biệt bạn, thù, biết điều hơn, lẽ thiệt từ đó có những hành vi đúng đắn phục vụ quyền lợi dân tộc. Báo Trung lập được thợ thuyền hết sức hoan nghênh bởi ngày nào báo cũng dành dung lượng lớn mô tả thảm cảnh mà tầng lớp này phải chịu đựng. Báo kêu gọi họ đứng lên đấu tranh đòi quyền sống. Tiếc rằng, vì đấu tranh quá gay gắt với nhà cầm quyền, Trung lập bị rút giấy phép. Chỉ với 11 tháng làm cho báo này, Nguyễn Văn Tạo đã kịp tạo ra dấu ấn trong lòng bạn đọc, được công chúng hết sức tin yêu.
Trung lập bị đóng cửa, Nguyễn Văn Tạo chuyển sang làm cho La Lutte (số 1 ra ngày 24.4.1933). Có thể nói, trong thời gian đầu, La Lutte là tờ báo chung của những người yêu nước, không phân biệt khuynh hướng chính trị, đảng phái. Trong giai đoạn này, báo tập trung vào việc đấu tranh với nhà cầm quyền, đòi cải cách xã hội, vận động tranh cử cho các nhà cách mạng Việt Nam, bất kể họ theo chủ nghĩa Quốc gia, đệ Tam hay đệ Tứ quốc tế. Vì lí do tài chính, La Lutte ra được 4 số thì tạm đóng cửa (2.6.1933), mãi đến đầu tháng 10.1934, báo mới ra tiếp số 5. Lúc này, lực lượng làm cho La Lutte đã tăng lên đáng kể, xung đột giữa đệ Tam và đệ Tứ cũng trở nên căng thẳng hơn. Nguyễn An Ninh luôn phải đứng ra làm trung gian hoà giải giữa đệ Tam (Nguyễn Văn Tạo, Nguyễn Văn Nguyễn, Dương Bạch Mai, Nguyễn Thị Lựu, Trần Thị Đầy) với nhóm đệ Tứ (Tạ Thu Thâu, Hồ Hữu Tường, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch, Huỳnh Văn Phương). Vì quyền lợi người lao động, giữa các nhóm đã có sự thoả thuận không dùng La Lutte để công kích lẫn nhau, mà tập trung vào việc đấu tranh với thực dân đế quốc. Trên tờ báo này, Nguyễn Văn Tạo viết khá nhiều bài về chính trị, bênh vực tầng lớp bị áp bức bóc lột.. Vào thời đó, La Lutte là tờ báo được đông đảo người dân ủng hộ nhất. Sáng nào cũng vậy, toà soạn vừa mở cửa là thợ thuyền ùn ùn kéo vào thưa kiện vì bị đuổi việc vô cớ, bị trừ lương không rõ lí do, bị cướp ruộng vườn… Anh em phóng viên phải chạy đôn chạy đáo để bảo vệ quyền lợi người lao động.
Từ năm 1935, Nguyễn An Ninh không làm cho La Lutte nữa, giao cho Tạ Thu Thâu lo việc tài chính. Đây là cơ hội để nhóm đệ Tứ (Trốtkit) thôn tính tờ báo. Nguyễn Văn Tạo, Nguyễn Văn Nguyễn tích cực đấu tranh với nhóm này nhưng không thắng được số đông. Mặc dù sau đó, La Lutte rơi vào tay nhóm đệ Tứ, nhưng không ai có thể phủ nhận được vai trò của những người theo phái đệ Tam (do Nguyễn Văn Tạo đứng đầu) đã có công rất lớn trong việc tuyên truyền công khai chủ nghĩa Mác- Lênin vào nước ta. Tờ báo này từng đăng Tuyên ngôn của đảng cộng sản của Mác-Ănghen, Mười ngày rung chuyển thế giới của G. Rit, đăng tác phẩm của các nhà khoa học tiến bộ Pháp như M.Pronang, G.Phrevin, P.Vayang Cutuyrie, B.Laxco… Vì đã từng làm cho La Lutte mà có thời gian nhân cách cộng sản của Nguyễn Văn Tạo bị một số người nghi ngờ. Về việc này, năm 1963 Nguyễn Văn Tạo nói rõ trong bản tự thuật của mình: “Việc hợp tác ra báo và đứng chung sổ với Trốtkit đã xảy ra nhiều năm trước Đại hội Quốc tế lần thứ 7. Vì tư tưởng còn ấu trĩ, thấy trong hoàn cảnh Việt Nam lúc bấy giờ kẻ địch là thực dân đế quốc nên cũng không nghĩ đến việc hợp tác với Trốtkit có nguyên tắc hay không có nguyên tắc. Trong số những đồng chí trung ương lúc đó tôi chỉ gặp được đồng chí Hà Huy Tập do Nguyễn An Ninh bố trí tại nhà mà thôi. Gặp tôi, đồng chí báo cáo về tình hình Đảng, chẳng có bao giờ chỉ thị bỏ báo La Lutte. Sau Lê Hồng Phong nắm nghị quyết Đại hội thứ 7 Quốc tế Cộng sản, cũng không thảo luận với chúng tôi phải ra khỏi nhóm La Lutte. Đồng chí Hà Huy Tập cũng có một số bài trên báo La Lutte”. Thực ra vấn đề này không đơn giản như Nguyễn Văn Tạo nghĩ. Trong lịch sử đấu tranh cách mạng của mình, không ít lần Đảng ta buộc phải thay đổi sách lược đấu tranh, thậm chí có những lúc tạm thời thoả hiệp với kẻ thù lâu dài để tập trung sức lực đấu tranh với kẻ thù trước mắt. Nhưng sách lược đó chỉ áp dụng với kẻ thù “tiềm năng” (thực dân đế quốc) chứ không dành cho kẻ thù “tiềm ẩn” (giả danh cộng sản để chống cộng sản). Về vấn đề lực lượng cũng vậy, sau này Đảng chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Liên Việt là nhằm lôi kéo các thành phần xã hội khác nhau đi theo cách mạng, chấp nhận cả các tầng lớp tư sản, phú hào, địa chủ, nhưng tuyệt đối không dung nạp phần tử Trốtkit. Đó là nguyên tắc bất di bất dịch. Sự linh hoạt của Nguyễn Văn Tạo đành rằng vì lợi ích chung, nhưng rất dễ rơi vào thực trạng “lợi bất cập hại”, giải quyết được cái tình nhưng lại vi phạm đến các nguyên tắc của cái lí. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải thông cảm với sự ngộ nhận của Nguyễn Văn Tạo và một số người khác về Tạ Thu Thâu, Trần Văn Thạch, Huỳnh Văn Phương, Hồ Hữu Tường, những đối tượng lúc này vẫn đang giấu mình, chưa bộc lộ rõ quan điểm phản động. Hơn nữa, họ cũng đấu tranh rất dữ dội với thực dân Pháp, cũng ra tù vào tội, thậm chí đã đổ cả xương máu. Và quan niệm “Kẻ thù của kẻ thù là bạn ta” được Nguyễn Văn Tạo vận dụng trong trường hợp này âu cũng là lẽ thường tình. Vào những năm đầu thế kỉ XX, nhiều đảng viên của chúng ta cũng mắc phải thiếu sót này.
La Lutte là một tờ báo có vị trí khá lớn trong xã hội. Kể từ khi tờ báo này rơi vào tay nhóm Trốtkit, Đảng ta mất đi một cơ quan ngôn luận quan trọng. Đây cũng là lúc các phong trào cách mạng đang lên rất mạnh, việc ra một tờ báo của trung ương là hết sức cần thiết, cấp bách. Từ đề nghị của đồng chí Nguyễn Thị Lựu, Trung ương Đảng quyết định ra tờ L’Avant garde (số 1 ra ngày 29.5.1937 - Cơ quan của lao động và nhân dân Đông Dương). Sở dĩ chúng ta phải ra báo tiếng Pháp bởi lúc này việc xin phép ra báo tiếng Việt vẫn rất khó khăn, bị chính quyền kiểm soát ngặt nghèo. Toà soạn đặt tại số nhà 43 đường Hamelin - Sài Gòn (nay là đường Lê Thị Hồng Gấm). Báo do đồng chí Hà Huy Tập chỉ đạo chung. Bộ Biên tập vẫn là những cây bút cộng sản nổi tiếng như Nguyễn Văn Tạo, Nguyễn Văn Nguyễn, Nguyễn Thị Lựu, Trần Văn Kiệt, Nguyễn Văn Trấn, Phạm Hữu Lầu, Mai Huỳnh Hoa, Dương Bạch Mai… Ngay trong số đầu tiên Nguyễn Văn Tạo đã có bài Lao động! Những người bị áp bức ở Đông Dương. Bài này đồng chí đã viết từ trước bởi trước khi L’Avant garde ra số 1 khoảng 10 ngày Nguyễn Văn Tạo và Nguyễn An Ninh đã bị địch bắt, bị xử 2 năm tù, 5 năm biệt xứ về tội xúi giục nổi loạn. Chính vì vậy, trên tờ báo này có rất ít bài viết của ông. Không để phí thời gian, trong khi ngồi tù, Nguyễn Văn Tạo đã viết xong một số cuốn sách như Lịch sử phong trào XHCN bên Pháp, Chống chủ nghĩa phát xít bên Pháp, Tổ chức Thập tự lửa, rồi bí mật chuyển ra ngoài xuất bản. Đây là những cuốn sách có giá trị về mặt lí luận, lịch sử thời bấy giờ.
Vừa thoát khỏi nhà tù (23.2.1939), Nguyễn Văn Tạo tìm cách trở lại Sài Gòn để ra tranh cử vào Hội đồng Quản hạt. Từ tháng 3 cho đến khi bị bắt lại (9.1939), ông viết rất nhiều bài cho các báo Công luận, Dân chúng, Đông phương - những tờ báo Đảng đang được bạn đọc hết sức ủng hộ. Trong số các tờ báo này, Công luận được Nguyễn Văn Tạo gửi đăng bài nhiều nhất. Đây là tờ báo của ông Giang Văn Chánh (lúc đầu có tên là Công luận báo, số 1 ra ngày 29.8.1916, số cuối ra tháng 10.1939). Bài viết của Nguyễn Văn Tạo đề cập đến nhiều vấn đề, xoáy khá sâu vào lĩnh vực tranh cử. Bác bỏ sự vu khống của nhóm Trốtkit, ông khẳng định mục đích trong sáng khi quyết định ra tranh cử của mình: “Chúng tôi lại còn cương quyết đứng lên nắm tay với cử tri đề khai một kỉ nguyên mới trong cuộc bầu cử là đem lực lượng của đoàn thể kết chặt để mở đường tuyển nhập cho phần tử vô sản độc lập vào giữ ngôi thứ trong nghị trường… Nghĩ rằng mình chỉ đem lực lượng riêng để gia nhập vào chiến tuyến chung mà tranh đấu cho tiền đồ của xã hội… Mà phát biểu những ý kiến có ích chung vừa cho vô sản giai cấp, vừa cho toàn thể dân chúng…”-Công luận, 23.3.1939. Ông tố cáo nhà cầm quyền gian lận trong bầu cử và bày đặt mưu mô gạt bỏ những nhà cách mạng ra khỏi danh sách ứng cử: “Tuyển cử là để dò ý nguyện của dân. Chớ nếu tuyển cử chỉ là để dùng thế lực của bộ máy cai trị mà bầu cử những người không làm mếch lòng chính phủ thì còn bày đặt ra tuyển cử để làm gì?
Chế độ tuyển cử HĐQH rất eo hẹp, hầu hết dân chúng không có quyền bỏ thăm thế mà người ta bôi bỏ rất nhiều cử tri nữa. Nay còn vượt khỏi phạm vi luật pháp đã định mà không thâu nhận đơn ứng cử của những chiến sỹ có đủ điều kiện, ấy là một điều nhỏ nhen hết sức…” – Bài Tôi chủ trương bỏ thăm phản đối (Công luận, 13.4.1939). Và Nguyễn Văn Tạo nói rõ mục đích ứng cử Hội đồng Quản hạt của ông “Tôi không lấy sự đắc cử vào Ban Hội đồng làm mục đích cuối cùng. Chúng tôi thấy rằng đứng trước thời cuộc nghiêm trọng ngày nay, quốc dân Nam kỳ - Và khắp Đông Dương - cần phải thừa dịp tuyển cử này mà tỏ cho nhà cầm quyền biết những nguyện vọng tha thiết của mình và sự cương quyết tranh đấu cho được thắng lợi” (Trích đăng bức thư của Nguyễn Văn Tạo đăng trên Công luận số ra ngày 28.4.1939).
Ngoài việc đấu tranh với Trốtkit, nhiều bài báo của Nguyễn Văn Tạo tập trung vào việc lên án chủ nghĩa Quốc gia đầu lưỡi của nhóm Lập hiến do Bùi Quang Chiêu cầm đầu. “Đảng Lập hiến không còn giá trị gì nữa hết. Những người phú hào ra tranh cử dưới bóng cờ Lập hiến thì chỉ mong nhờ vẫy tiền ra mua thăm và nhờ thế của nhà đương cuộc ủng hộ mà thôi.
Trước bao nhiêu sự lo âu của dân chúng, bọn họ không phải là những người có thể dẫn đường tiến tới cho xứ sở. Trái lại Chiêu - Liêm - Khá - Thuận - Trị đã có dịp phản động một cách khả ố phong trào của toàn thể quốc dân. Chính mình các ông Hội đồng Quản hạt ấy đã nhận lĩnh vai tuồng khốn nạn của bọn phản động thuộc địa sai khiến để phá hoại Đông dương Đại hội và đưa vào khám những chiến sỹ của dân chúng”- Bài Muốn đạt được những điều cải cách cần phải thống nhứt các lực lượng tiên tiến và cương quyết (Công luận, 6.4.1939).
Có thể nói, năm 1939 là năm bản lề của lịch sử thế giới. Đây cũng là quãng thời gian Nguyễn Văn Tạo phơi bày những hậu quả do chiến tranh đem lại, lên án tội ác của chủ nghĩa phát xít nói chung, tính chất lừa bịp của phát xít Nhật nói riêng. Ông khẳng định: “Quyền lợi tối cao của nhơn loại trong buổi này là cản đường tấn công của phát xít chủ nghĩa, là chống chiến tranh giữ lại sự sống còn cho các chủng loại, là bảo vệ những kho tàng quí báu của văn minh thế giới. Phát xít Ý tàn sát dân Á, phát xít Đức dày đạp những dân tộc Áo, Tiệp. Đức, Ý giết hại vô số dân chúng Tây Ban Nha, khích cạnh ta bọn quân phiệt Nhựt “bảo hộ” dân tộc Tàu bằng những đống thây vô định quanh vùng Nam Kinh, Thượng Hải.
Thế mà ở xứ ta cũng có những bọn thân Nhựt hết sức hoạt động cổ võ cho một cuộc “thay cũ đổi mới” để cho dân chúng ta lãnh cái số phận đáng thương của quần chúng Mãn Châu Quốc”-Bài Đông Dương là bãi chiến trường sau này (Công luận, 24.3.1939). Cũng trong bài này, bên cạnh việc phơi bày bộ mặt thật của hoạ phát xít, Nguyễn Văn Tạo nói rõ quan điểm, tư tưởng của mình: “Chúng tôi là những người Cộng sản. Chúng tôi không bao giờ quên rằng bổn phận của chúng tôi là lo giác ngộ quần chúng để một ngày kia dưới quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản chúng tôi sẽ đem lại cho xứ Đông Dương sự giải phóng hoàn toàn về quốc gia và xã hội…”. Mặc dù chưa đề cập trực diện đến việc đánh đuổi thực dân đế quốc, giành độc lập dân tộc, nhưng ông cũng cảnh báo những ai quá kì vọng vào những cải cách xã hội: “Vấn đề xã hội không rời được vấn đề quốc gia… Thợ thuyền không thể tranh đấu riêng một mình mà phải cùng đi với tất cả các lực lượng nào muốn cho có một cuộc sửa đổi cho xứng đáng của quốc gia chủng tộc”.
Từ đầu tháng 6.1939, báo Công luận mở mục Bức thư cuối tuần dành riêng cho Nguyễn Văn Tạo đăng những bài bình luận quốc tế. Trên mục này, Nguyễn Văn Tạo thường xuyên có bài bàn về những vấn đề đang ảnh hưởng lớn đến vận mệnh thế giới như: Cái hoạ của chiến tranh, người dân châu Á sẽ gặp điêu đứng khi Nhật đưa quân vào khu vực này, tình hình đấu tranh của thợ thuyền các nước…. Điều đáng nói là, những nội dung quốc tế mà Nguyễn Văn Tạo đề cập đến bao giờ cũng được ông trực tiếp hoặc gián tiếp liên hệ với tình hình Việt Nam, là kinh nghiệm đấu tranh để chúng ta học tập. Trong số những bài bình luận này, ông dành thời lượng khá lớn viết về Liên Xô, về cách mạng Tháng Mười, về cách mạng Trung Quốc. Trong tất cả các bài viết của Nguyễn Văn Tạo mà chúng ta có trong tay, ít khi chúng ta phát hiện được những bài, những đoạn nói lên thái độ lừng chừng, nước đôi của ông. Bao giờ Nguyễn Văn Tạo cũng đứng hẳn về một phía mà ông đã lựa chọn và nguyện tôn thờ suốt đời. Trước sự vu khống của các lực lượng phản động quốc tế, Nguyễn Văn Tạo đã viết bài bênh vực chính quyền Xô viết một cách quyết liệt. Ông đề cao chế độ XHCN mà nước Nga đã lựa chọn: “Chánh thể Xô Viết đã do một cuộc cách mạng vĩ đại trong hồi khói lửa mà nảy sanh thì cái chánh thể ấy bao giờ cũng đeo đuổi mục đích gìn giữ hoà bình cho nhân loại.
Năm 1922, tại thành Gênes (Ý Đại Lợi), Liên Xô đã đem vấn đề tài binh ra đề nghị với các cường quốc. Và về sau bất cứ có dịp nào, Liên Xô cũng chủ trương thủ tiêu các món khí giới giết người…”- Bài Liên Xô dè dặt là phải lắm – số ra ngày 10.6.1939. Qua những bài dạng này, Nguyễn Văn Tạo như muốn khẳng định tính ưu việt của chế độ XHCN, coi đây như là chế độ lí tưởng để Đảng và toàn dân Việt Nam vươn tới.
Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Nguyễn Văn Tạo viết rất nhiều bài báo có giá trị. Rất tiếc là, cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có điều kiện sưu tầm được hết những trước tác của ông, để hiểu nhiều hơn về ông, một nhà cách mạng chân chính, một chiến sỹ cộng sản lỗi lạc, suốt đời đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Chỉ còn ít tháng nữa là kỉ niệm 100 năm ngày sinh của ông. Hi vọng rằng, bài báo nhỏ này như một nén nhang gửi tới ông nơi chín suối, để nói với ông rằng, các thế hệ hôm nay sẽ mãi đi theo con đường mà ông và các nhà cách mạng tiền bối đã chọnr

Quang Đạm - nhà báo, học giả

Chỉ với hai câu trên GS. Vũ Khiêu đã khái quát được đầy đủ nhân cách, lý tưởng sống của nhà báo - chiến sỹ cộng sản Quang Đạm. Ông ra đi đã được 5 năm, con người ông, những việc làm của ông sẽ còn đọng lại mãi trong trái tim các thế hệ cầm bút sau này.

TỪ TĂM TỐI PHONG KIẾN ĐẾN VỚI ÁNH SÁNG CÁCH MẠNG
Quang Đạm tên thật là Tạ Quang Đệ sinh ngày 1.9.1913 tại Nam Đàn, Nghệ An trong một gia đình có truyền thống Nho học mẫu mực. Cả hai bên nội ngoại của Quang Đạm đều có nhiều người đỗ đạt, làm quan thanh liêm. Phụ thân Quang Đạm là cụ Tạ Quang Diệm, từng đỗ cử nhân, ra dạy học, được bổ Huấn đạo phụ trách giáo dục phủ Hà Hoá, sau làm giáo thụ phủ Tam Kỳ - Quảng Nam. Thân mẫu của ông là nữ trí thức, nhà thơ nổi tiếng Sầm Phố. Ông nội của bà là Đỗ Đức Đạt, đỗ đầu Thám hoa dưới triều Tự Đức, từng là thầy dạy Phan Bội Châu. Trải qua 10 đời họ Tạ luôn tuân thủ nghiêm ngặt 3 qui ước:
Ông dạy cháu, cha dạy con, không học bên ngoài.
Không được lấy vợ hai, không có thê thiếp, lễ mọn.
Chỉ thờ tổ tiên, không cúng quỷ thần, tà ma.
Những quan niệm đạo đức này đã góp phần hình thành nên nhân cách Quang Đạm: “Cần cù học tập, nghiêm cẩn trong công việc, lối sống giản dị” - trích lời nhà báo lão thành Hữu Thọ.
Do nhiều thế hệ trước chỉ sống bằng lương bổng triều đình nên đến đời Quang Đạm gia cảnh vẫn rất thanh bạch, nghèo túng. Bằng chứng của sự thiếu thốn này là gia đình Quang Đạm có nhiều người mắc chứng lao phổi, trong đó có ông. 14 tuổi ông tốt nghiệp tiểu học (1926) đúng vào dịp cả nước đang sôi nổi phong trào đòi thả Phan Bội Châu, để tang Phan Chu Trinh. Ông cũng tham gia bãi khoá theo lời kêu gọi của Võ Nguyên Giáp, Phan Thanh. Phong trào bị đàn áp, ông bỏ về quê. Phan Bội Châu thoát án tử hình bị đưa về Huế an trí. Gia đình quyết định đưa Quang Đạm đến xin làm học trò của cụ. Vì có mối giao tình từ trước nên Phan Bội Châu đã nhận lời. Chỉ sống gần “ông già bến Ngự” có một năm nhưng tâm hồn non nớt của Quang Đạm đã vỡ ra được nhiều điều. Kiến thức uyên bác và tinh thần yêu nước của Phan Bội Châu đã gắn chặt với Quang Đạm suốt cuộc đời. Hiện nay, tại nhà tưởng niệm Phan Bội Châu ở Huế, người ta vẫn còn giữ được tấm hình Quang Đạm chụp chung với cụ.
Cũng trong thời gian ở với cụ Phan, Quang Đạm đã bước đầu tập viết báo đăng trên báo Tiếng dân, một tờ báo yêu nước có tiếng thời bấy giờ do chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng chủ xướng. Trong số đó có bài châm biếm, đả kích tên bồi bút Nguyễn Bá Trác, tay sai của chính quyền thực dân và triều đình phong kiến thối nát. Mặc dù những bài viết này vẫn còn non nớt, nhưng đã phần nào nói lên được khí phách chớm nở của một thiếu niên mới bước sang tuổi 15. Vì nhiều lý do, Quang Đạm chỉ ở với cụ Phan Bội Châu được gần 1 năm. Ông ứng thi và đỗ trường Quốc Tử Giám ở Huế. Sau mấy năm ăn học, Quang Đạm tốt nghiệp (1932) và được bổ làm quan Thừa phái của huyện Thiệu Hoá, Thanh Hoá. Một thời gian sau ông chuyển sang làm công việc của toà án địa phương. Với công việc mới này, Quang Đạm không có thời gian viết báo. Suốt từ năm 1932 đến năm 1945, ông hầu như không gửi bài cho các báo.
Vào thời gian cuối của cuộc chiến tranh thế giới lần thứ II, đất nước ta phải hứng chịu những khó khăn vô cùng to lớn. Thiên tai, mất mùa và chính sách cai trị vô cùng hà khắc của thực dân Pháp, phát xít Nhật đã làm hàng triệu con người vô tội phải chết đói. Một trong những địa phương phải gánh chịu hậu quả nặng nề nhất là Thanh Hoá. Ông Hà Văn Đại lên làm Tổng đốc Thanh Hoá. Để giảm bớt nỗi khổ cho người dân, ông chọn Quang Đạm, người nổi tiếng thanh liêm, chính trực làm Tri phủ Hà Trung. Làm quan nhưng Quang Đạm luôn xác định phải sống sao cho trong sáng, xứng với đạo đức ông cha. Vừa thừa hành chức phận, ông vừa tìm cách tiếp xúc với cá nhân, tổ chức cách mạng. Ông quan niệm, chỉ có cách mạng mới có thể đưa dân chúng thoát khỏi vòng khổ ải. Và thật may mắn, ông đã liên lạc được với Đặng Thai Mai, một trí thức yêu nước thời đó thông qua ông Võ Chương. Cách mạng Tháng Tám vừa nổ ra, Quang Đạm đã mở cửa phủ bàn giao sổ sách cho chính quyền cách mạng. Ngay sau đó ông đã lên Hà Nội tham gia chính quyền Việt Minh.
Đầu tháng 9.1945, Quang Đạm được Đại tướng Võ Nguyên Giáp phân công về Bộ Tổng tham mưu làm Bí thư trưởng Cục Thông tin, trực tiếp chỉ đạo việc xây dựng và tổ chức phòng Mật mã. Ông được coi là một trong những người sáng lập ra ngành Mật mã Việt Nam. Vì những đóng góp này mà tháng 6.2001 Bộ Quốc phòng đã trao cho gia đình ông Bằng chứng nhận Giải thưởng nhà nước về khoa học và công nghệ.
Quang Đạm về làm việc ở Phòng Mật mã được hơn một năm thì kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Ông nhận nhiệm vụ thiết lập các đường dây bí mật đảm bảo thông suốt liên lạc giữa chiến khu Việt Bắc với các địa phương. Khi mọi việc đã tạm ổn, ông lên hẳn chiến khu. Vì biết thông thạo tiếng Trung Quốc, tiếng Anh và Pháp nên Quang Đạm được cử tham gia biên dịch các tài liệu chính trị quân sự quan trọng của nước ngoài để làm tài liệu học tập, huấn luyện cho cán bộ chiến sĩ. Nhận thấy tài năng tiềm tàng của dịch giả, Tổng Bí thư Trường Chinh đã điều động Quang Đạm về chỗ đồng chí làm việc. Vào dịp kỷ niệm Đảng (1947) cơ quan ra tờ báo liếp giao cho Quang Đạm phụ trách lấy tên là Bảo nhau. Đây có thể coi là “tờ báo” đầu tiên trong sự nghiệp hoạt động báo chí cách mạng của Quang Đạm. Nhờ những nỗ lực vươn lên không ngừng, ngày 10.5.1947, một vinh dự vô cùng lớn lao đã đến với Quang Đạm. Ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam qua sự giới thiệu của đồng chí Mười Hương (người sau này đảm nhiệm chức vụ Phó Ban Tổ chức trung ương Đảng). Với trách nhiệm của một đảng viên, một chiến sỹ cách mạng, Quang Đạm đã không quản khó khăn vất vả lao vào hoạt động không biết mệt mỏi. Nhiều năm sống xa gia đình giữa chốn rừng thiêng nước độc, thiếu thốn đủ bề, hiểm nguy rình rập khắp nơi, Quang Đạm vẫn âm thầm lặng lẽ đóng góp sức lực của mình cho sự nghiệp của Đảng, của nhân dân.
Với nhân cách và tài năng của mình, Quang Đạm ngày càng nhận được sự tín nhiệm của Đảng và Nhà nước. Cuối năm 1947 đầu năm 1948, ông được bầu làm uỷ viên Ban Tuyên huấn trung ương, sau làm Tổng Thư ký Hội nghiên cứu chủ nghĩa Các Mác ở Đông Dương. Đây cũng là dịp để ông trở thành uỷ viên Ban Biên tập báo Sự thật, cơ quan ngôn luận của Hội. Công việc mới này đã đưa Quang Đạm đến với sự nghiệp hoạt động báo chí chuyên nghiệp. Hàng chục bài báo có tiếng vang lớn của ông đã xuất hiện trên báo Sự thật. Đầu những năm 1950, diễn biến chiến trường bắt đầu nghiêng về lực lượng cách mạng. Quân và dân ta liên tiếp mở những chiến dịch lớn và giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Tình hình đó buộc Đảng phải ra công khai trở lại, danh chính ngôn thuận lãnh đạo quân dân đấu tranh. Trung tuần tháng 2.1951, Đại hội Đảng lần thứ II được tổ chức tại Việt Bắc đã quyết định đổi tên Đảng thành Đảng Lao động Việt Nam cho phù hợp với tình hình mới. Đại hội đã thông qua nghị quyết ra báo Nhân dân làm cơ quan ngôn luận của Trung ương Đảng. Vì là tờ báo lớn nhất của Đảng nên Nhân dân luôn nhận được sự chỉ đạo sát sao của Tổng Bí thư Trường Chinh. Do những khó khăn thời chiến và cũng để tinh gọn biên chế, Đảng chủ trương chưa ra tạp chí, nên báo Nhân dân, ngoài việc thông tin những vấn đề thời sự trong và ngoài nước, còn đảm trách thêm phần lý luận, tuyên truyền để giáo dục, định hướng dư luận. Quang Đạm và một số người khác được điều động về báo Nhân dân, phụ trách phần lý luận, nghiên cứu. Từ đó, ông làm việc cho báo Nhân dân đến ngày nghỉ hưu (9.1979).
Qua những gì còn lại, chúng ta thấy Quang Đạm sử dụng khá nhiều bút danh. Khi còn làm việc ở báo Sự thật (1947 - 1950) ông thường ký QĐ, Quang Đạm dưới những bài mang màu sắc chính trị, những bài khảo luận về học thuật, tư tưởng. Còn khi viết bài có tính văn hoá, xã hội ông dùng bút danh được ghép lại từ tên của ba người con Đàm Ngọc Liên (Điền Ngọc Lam), hoặc ghép tên mình với tên các con Lê Ngọc Đạm (Lam Ngọc Đệ)... Cái tên Quang Đạm cũng xuất phát từ lối nói lái này. Sau khi về báo Nhân dân ông hầu như chỉ ký QĐ, Quang Đạm.
Trong suốt hơn 30 năm làm báo chuyên nghiệp, Quang Đạm đã viết hàng trăm bài báo thuộc các thể loại xã luận, bình luận, những bài có tính chất khảo luận, nghiên cứu. Đáng tiếc là, cho đến nay, chưa có ai, chưa có cơ quan nào tiến hành thu thập những bài viết đó lại. Đây là công việc khó thực hiện bởi như chúng ta đã biết, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ (thậm chí cả ngày nay) các tờ báo Đảng hầu như không đăng tên tác giả (hoặc bút danh) dưới các bài xã luận, bình luận. Chúng được coi như là hiện thân của ý chí tập thể, được giao cho nhóm vài người trong ban biên tập chấp bút, tuỳ theo khả năng, sở trường từng người. Giờ đây chúng ta chỉ có thể xác định tên tác giả qua phong cách viết. Cách làm này tuy mang tính khoa học nhưng không thể cho đáp án chính xác tuyệt đối. Những người trước đây từng là bạn bè, đồng nghiệp, là cấp trên trực tiếp của Quang Đạm phần lớn giờ đã khuất núi. Những người còn sống tuổi cũng đã cao, họ cũng không thể cung cấp được nhiều tư liệu về ông. Tất cả đều nằm trong màn sương hư ảo rất khó kiểm chứng. Có điều, ai cũng khẳng định Quang Đạm là một nhà báo có đức, có tài, có nhiều đóng góp đối với báo chí cách mạng Việt Nam.

NGÒI BÚT ĐẤU TRANH KHÔNG KHOAN NHƯỢNG
Mấy chục năm qua những người cùng thời và lớp hậu thế khi nhắc tới Quang Đạm là phải nói tới những cuộc luận chiến về khoa học, triết học, chính trị, tư tưởng. Đầu tiên và nổi tiếng nhất là cuộc tranh luận về tư pháp nổ ra trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp mà ông là hạt nhân.
Như chúng ta đã biết, vào những năm 1947 - 1948, lực lượng kháng chiến của ta vẫn còn rất mỏng, lại chưa được tổ chức tốt. Chính quyền phải ôm đồm, giải quyết mọi việc. Chức năng, nhiệm vụ của các ngành, đoàn thể chưa có sự phân công, tách bạch rõ ràng, tạo nên sự chồng chéo, lấn quyền nhau, dễ dẫn tới hậu quả đáng tiếc. Trong xã hội bắt đầu xuất hiện tệ quan liêu, vô trách nhiệm, lợi dụng quyền hạn phục vụ mưu đồ cá nhân. Đứng trước thực tế này, đồng chí Trường Chinh đã trực tiếp giao nhiệm vụ cho Quang Đạm viết bài nhằm giải quyết những mâu thuẫn đang ngày càng găy gắt giữa hai ngành Hành chính và Tư pháp. Nhận nhiệm vụ, Quang Đạm ngày đêm nghiên cứu tài liệu, trực tiếp đi cơ sở tiếp thu những phản ánh của cán bộ, công chức, lắng nghe tâm tư nguyện vọng của người dân. Từ những gì thu thập được cộng với vốn tri thức uyên bác về luật, chỉ trong vòng hơn một tháng (từ 15.4 đến 19.5.1948) Quang Đạm đã cho đăng liên tiếp hai bài “Tư pháp với nhà nước” và “Tính chất chuyên môn trong tư pháp” trên báo Sự thật. Qua đây, ông đã chỉ ra mối quan hệ khăng khít giưa Tư pháp với chính quyền. Tư pháp là công cụ của chính quyền trong việc thực hiện chế độ dân chủ nhân dân. Chính quyền và tư pháp phải có sự hỗ trợ lẫn nhau để quản lý và thúc đẩy xã hội phát triển.
Ở bài báo thứ nhất Quang Đạm đề cập tới một nền tư pháp đặc thù Việt Nam phục vụ đắc lực cho công cuộc kháng chiến kiến quốc của Đảng và Nhà nước. Còn ở bài thứ hai tác giả không chỉ bàn về tính chất chuyên môn mà còn xác định trách vụ, quyền hạn cho tư pháp. Ông nhiều lần nhấn mạnh, những người làm tư pháp, ngoài chuyên môn giỏi, nắm tường tận những quy định của pháp luật, còn phải biết ứng xử nghề nghiệp một cách linh hoạt, phải biết trân trọng sở nguyện của đông đảo tầng lớp nhân dân. Nói cách khác, Quang Đạm rất đề cao truyền thống ứng xử có trước có sau, thấu tình đạt lý của dân tộc, kể cả trên lĩnh vực tư pháp. Sau khi những bài báo trên xuất hiện, trong xã hội đã nảy sinh hai luồng tư tưởng khác nhau. Chính quyền (mà ở đây chủ yếu là giới hành chính) các cấp cũng như đông đảo quần chúng nhân dân ủng hộ nhiệt liệt. Họ cho rằng nguyên tắc tập trung dân chủ sẽ tạo nên được sự đồng thuận, thống nhất, phù hợp với thực tế kháng chiến. Ngược lại, giới tư pháp lại tỏ ra không đồng tình. Họ lập luận quan điểm tập trung dân chủ dễ dẫn tới sự lạm quyền, áp đặt, phá vỡ nền dân chủ nhân dân mà Đảng và Nhà nước đang hướng tới. Các ông Vũ Đình Hoè (lúc đó làm Bộ trưởng Tư pháp), Vũ Trọng Khánh, Vũ Ngọc Côn, Lưu Anh liên tục nêu chính kiến của mình trên báo Độc lập (cơ quan ngôn luận của Đảng Dân chủ). Dù đề cập nhiều vấn đề khác nhau nhưng các tác giả trên đều đề cao tính độc lập tuyệt đối giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp (tam quyền phân lập). Theo họ, tư pháp nên được hiểu như một thứ siêu quyền lực, tách rời thể chế chính trị - xã hội. Nói cách khác, tư pháp phải đứng trên chính trị, không chịu sự điều phối của chính trị...
Trước hàng loạt các ý kiến trên, ngày 15.11.1948, Quang Đạm tiếp tục cho đăng bài “Vài điểm căn bản về tư pháp” trên báo Sự thật. Có thể nói đây là bài báo có tính bao quát nhất về các tính chất, đặc điểm của Tư pháp Việt Nam. Ngay ở phần đầu bài tác giả đã đề cập nguồn gốc, vai trò, chức năng của tư pháp nói chung, tư pháp Việt Nam nói riêng. Phản đối ý kiến cho rằng pháp luật là cái bền vững, không có tính đặc thù riêng, Quang Đạm lập luận tuỳ theo tình hình mà pháp luật có sự thay đổi linh hoạt ở mỗi quốc gia. Điều này phụ thuộc rất nhiều vào trình độ, tình cảm, tâm lý của mỗi cộng đồng. Trên cơ sở này, ông quan niệm tư pháp các nước phương Tây có tính độc lập cao vậy mà chúng vẫn bộc lộ những tính chất phản động. Một nền tư pháp thực sự có tính chất tiến bộ lệ thuộc vào giai cấp thống trị mà nền tư pháp đó phục vụ có tiến bộ không. Theo tác giả, phân quyền là cần thiết, nhưng giữa chúng chỉ nên có tính độc lập tương đối. Một nền tư pháp tiến bộ phải dựa trên lập trường của nhân dân. Cuối cùng, Quang Đạm kết luận: “Mong rằng Tư pháp nên nhận định sự phân phối quyền hạn giữa kháng chiến hành chính và tư pháp chỉ là sự phân công phụ trách để làm cho khoa học, chứ không thể là một sự phân quyền theo quan niệm lấy quyền ngăn quyền mà đấu tranh giữa quyền này với quyền khác”. Cuộc tranh luận diễn ra mất 8 tháng ròng rã và cũng không hoàn toàn ngã ngũ. Cái được lớn nhất của nó là Quang Đạm, với kiến thức rộng lớn của mình đã dũng cảm đứng ra bảo vệ lợi ích của Đảng, của chế độ và nhân dân. Ông và những người không cùng chính kiến đã góp phần xây dựng nên một nền tư pháp dân chủ nhân dân, ổn định trật tự xã hội.
Hoà bình lập lại, Quang Đạm trở về Hà Nội tiếp tục làm việc ở báo Nhân dân. Vừa làm biên tập, ông vừa đảm nhiệm công việc Thư ký toà soạn, sau này còn phụ trách mảng khoa giáo. Bận rộn như vậy nhưng khi cần ông vẫn viết bài cho báo. Có thời gian là ông lao vào học tập, nghiên cứu, nâng cao khả năng ngoại ngữ, trau dồi thêm vốn kiến thức pháp luật, Hán học, triết học. Tiếp tục công việc dạy môn Ngôn ngữ báo chí từ năm 1949 (lớp viết báo Huỳnh Thúc Kháng), ông tích cực lên lớp tại trường Tuyên huấn trung ương (nay là Phân viện Báo chí và Tuyên truyền). Ông được mời tới nói chuyện tại nhiều trung tâm khoa học lớn của miền Bắc. Với vốn kiến thức uyên bác của mình, ông được người đương thời đánh giá như “Cuốn từ điển sống”. Đối với đồng nghiệp và lớp trẻ ông tận tình hướng dẫn, chỉ bảo. Nhiều nhà báo giờ đã nổi tiếng khi nhắc đến ông vẫn gọi là thầy Đạm một cách trân trọng.
Vào những năm 1955 - 1956, tình hình chính trị, kinh tế, xã hội nước ta có những diễn biến hết sức phức tạp. Người Mỹ dùng vũ khí, tiền bạc giúp Ngô Đình Diệm bình định miền Nam, phá hoại Hiệp định Giơnevơ, nhòm ngó miền Bắc XHCN. Lúc này một số nước nằm trong hệ thống XHCN cũng có những bất ổn về chính trị. Tại Liên Xô, Khơrutsốp lên làm Tổng Bí thư đã phần nào phủ định thành quả của Cách mạng Tháng Mười, bôi nhọ công lao của những người cộng sản chân chính. Đây chính là cơ hội để các phần tử phản động tại Ba lan, Hungary nổi lên đòi ly khai, thâu tóm quyền lực. Tình hình này đã có những tác động nhất định đến nước ta, nhất là đối với tầng lớp trí thức, tiểu tư sản, văn nghệ sỹ cũ. Lợi dụng việc chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vẫn còn nhiều lúng túng trong việc quản lý đất nước, đời sống nhân dân vẫn còn khó khăn thiếu thốn, những phần tử này đã cấu kết với nhau ra hai tờ Nhân văn và Giai phẩm để nói xấu cách mạng, gây mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Tình hình này buộc những nhà báo - chiến sỹ như Quang Đạm lại phải lên tiếng bảo vệ lẽ phải, bênh vực chính nghĩa.
Để phản bác lại quan điểm của nhóm Nhân văn - Giai phẩm đòi tách văn nghệ ra khỏi chính trị, ngày 1.10.1956 Quang Đạm đã có bài “Quan hệ giữa chính trị và văn nghệ” đăng trên báo Nhân dân. Bài báo đã chỉ ra rằng kể cả ở những nước vẫn thường rêu rao có nền dân chủ tuyệt đối cũng không có tự do sáng tác. Tự do sáng tác phương Tây chỉ là những tính từ mỹ miều được che đậy bởi những hình thức hết sức tinh vi. Thực chất đó là nền văn nghệ phục vụ tầng lớp thống trị giàu có. Đây là điểm khác biệt có tính bản chất so với văn nghệ XHCN, một nền văn nghệ của toàn dân. Hệ thống chính trị của ta do nhân dân lập nên, văn nghệ sỹ cũng từ nhân dân mà ra. Đây là một thể thống nhất không thể tách rời. Quang Đạm không hoàn toàn phủ nhận quan điểm “nói thẳng, nói hết, không sợ địch lợi dụng”, nhưng ông chỉ yêu cầu các văn nghệ sỹ khi phản ánh thực tế cần quan tâm đến lợi ích dân tộc, lợi ích của nhân dân, không được để địch lợi dụng, nhất là trong tình hình đất nước có chiến tranh. Được sự cổ vũ, động viên của đông đảo các tầng lớp nhân dân, vào cuối tháng 12.1956, Quang Đạm lại có loạt bài đăng trên báo Nhân dân bàn về các nguyên tắc dân chủ XHCN, điểm lại quá trình đấu tranh đầy hy sinh gian khổ của cách mạng nhằm thiết lập một xã hội công bằng, dân chủ...
Có thể nói, loạt bài nói trên của Quang Đạm đã đạt được những hiệu quả xã hội hết sức rộng lớn, góp phần rất lớn trong việc ổn định nhân tâm cũng như các mặt chính trị xã hội. Hầu như ngày nào trên các mặt báo cũng xuất hiện ý kiến của văn nghệ sỹ, của giai cấp công nhân, nông dân, trí thức. Họ lên tiếng ủng hộ quan điểm của Quang Đạm, lên án dã tâm “đục nước béo cò” của các phần tử chậm tiến. Công nhân nhà in không nhận in báo Nhân văn - Giai phẩm, quần chúng nhân dân tẩy chay không mua và đọc báo của nhóm này. Trước khí thế sôi sục của các tầng lớp xã hội, chính quyền quyết định thu hồi giấy phép của Nhân văn - Giai phẩm. Không chịu phục thiện, những đối tượng này tiếp tục len lỏi vào các cơ quan báo chí của nhà nước viết bài đả phá cách mạng, kích động gây rối. Không chỉ đòi tự do báo chí, họ còn đưa ra nhiều lập luận không có lợi cho sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước. Đây là lý do để Quang Đạm bày tỏ chính kiến của mình. Ông đã cho công bố một bài viết rất dài có tiêu đề “Quan điểm báo chí vô sản và quan điểm báo chí tư sản” đăng suốt một tuần liền trên báo Nhân dân vào cuối năm 1957. Sau này chúng được tập hợp lại thành tài liệu giảng dạy cho cán bộ, đảng viên dùng để đấu tranh trên mặt trận báo chí, tư tưởng. Đến nay, chúng vẫn còn nguyên giá trị cả về hai mặt khoa học và thực tiễn.
Mặc dù đạt được những thành công to lớn như vậy nhưng Quang Đạm không lấy thế làm vui. Sau này khi ngồi tâm sự với bạn bè ông đã nhiều lần chua xót bộc bạch đó chỉ là những chiến thắng nhọc nhằn. Kẻ thù ngoại xâm ông không sợ, cái đói cái nghèo cũng không làm ông quan tâm. Điều ông day dứt nhất là phải đặt những người đã một thời là đồng chí, đồng đội của mình sang bên kia chiến tuyến. Gạt bỏ tình riêng để phụng sự cái chung rộng lớn đâu phải là việc dễ làm đối với những con người luôn coi trọng lương tâm, trách nhiệm. Vào những năm 60 của thế kỷ trước, cuộc đấu tranh với những người không đồng chính kiến không chỉ diễn ra trên địa hạt văn học, nghệ thuật, báo chí mà nó còn lan sang lĩnh vực chính trị - tư tưởng. Đây là một vấn đề hết sức tế nhị, phức tạp liên quan đến nhận thức, lập trường của cả một chế độ. Chính vì vậy, khi được giao nhiệm vụ viết bài nhằm củng cố, ổn định tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, Quang Đạm rất lo lắng. Để bài viết có tính thuyết phục cao, ông phải ngày đêm nghiên cứu nhiều tư liệu, ngày đêm trăn trở để tìm ra những lập luận sắc bén nhằm đập tan những âm mưu, toan tính của các lực lượng đang cố tình đi ngược bánh xe lịch sử. Ông là người đầu tiên dùng khái niệm “chủ nghĩa xét lại” (revisionism) trong bài “Đập nát chủ nghĩa xét lại hiện đại” đăng trên báo Nhân dân. Qua bài này ông đã kịch liệt phê phán tư tưởng hữu khuynh của một bộ phận cán bộ, đảng viên, vạch mặt chỉ tên những kẻ cơ hội lợi dụng danh nghĩa cách mạng để chống phá cách mạng. Quan điểm của Quang Đạm một lần nữa nhận được sự ủng hộ của cả xã hội. Nhân dân đã sát cánh cùng với Đảng - Nhà nước đấu tranh không khoan nhượng với chủ nghĩa xét lại và cuối cùng chính nghĩa đã giành thắng lợi.

NGHIÊM KHẮC VỚI CHÍNH MÌNH
Có lẽ, Quang Đạm là người may mắn, ít nhất là trong sự nghiệp hoạt động báo chí. Ngay từ khi chập chững bước vào nghề báo Quang Đạm đã được gặp Bác Hồ. Biết Quang Đạm trước khi viết báo đã từng công tác tại bộ phận Mật mã, Bác căn dặn: “Trước chú làm mật mã tức là chú viết một cái gì mà ai không nắm được luật thì không hiểu được, không đọc được, không sử dụng được. Bây giờ làm báo Sự thật thì chú phải làm ngược lại. Chú phải viết thế nào để cho ai đọc cũng hiểu được...” Và lời khuyên “đầu đời” này đã gắn chặt với ông suốt hơn nửa thế kỷ. Cho dù chước tác của Quang Đạm đề cập các lĩnh vực triết học sâu sắc, tôn giáo phức tạp hay luận lý thâm thuý, người ta vẫn dễ dàng lĩnh hội được ý tứ, nội dung của vấn đề và đằng sau đó là một thái độ chân thành của người viết. Với bản tính trung thực, giản dị, khiêm tốn, cần mẫn trong công việc, trách nhiệm với cuộc đời, Quang Đạm được nhiều người yêu mến, kính trọng. Ông quan niệm, cái trường tồn chính là những kinh nghiệm, tri thức được tạo nên nên bởi bàn tay, khối óc, là những gì mình làm được với cái tâm trong sáng để giúp ích cho đời. Vì thế, ông yêu nghề làm báo, gắn bó với nghề này như một duyên nợ cho đến trọn đời mình.
Còn có hai con người nữa đã có ảnh hưởng lớn đến nghiệp làm báo của Quang Đạm là Gát-tông Mông-mut-xô (người đã từng dạy Bác Hồ làm báo, viết báo) và Tổng Bí thư Trường Chinh. Trong một lần tới Bec-lin (Đức) Quang Đạm được diện kiến Gát-tông và được nhận từ ông một lời khuyên như một lời tâm huyết: “Đừng bao giờ bỏ cái nghề đáng yêu, đáng quý này nhé!”. Và đến tận những năm cuối đời, mặc dù tuổi cao sức yếu, Quang Đạm vẫn lao vào viết, vẫn đều đặn có bài gửi cho các báo, vẫn gắn bó với cái nghề đáng yêu, đáng quý này.
Đồng chí Trường Chinh là người đã trực tiếp lựa chọn, bố trí để Quang Đạm bắt đầu sự nghiệp làm báo cách mạng, cũng là người theo dõi, giúp đỡ Quang Đạm nhiều năm sau trên bước đường hoạt động báo chí. Để có được văn phong sáng sủa, sắc sảo, lập luận chặt chẽ, đanh thép mang tính chiến đấu cao trong các bài báo, Quang Đạm đã chịu ảnh hưởng rất lớn từ những lời chỉ bảo ân cần của đồng chí Trường Chinh. Hầu như không có bài báo lớn nào của Quang Đạm lại không nhận được sự góp ý chân tình, nghiêm khắc của Tổng Bí thư. Trong những giây phút cuối cùng của cuộc đời Quang Đạm đã trăn trối với con gái: “Trên bước đường đi theo cách mạng, cậu có hai người thầy trực tiếp đó là đồng chí Trường Chinh và đồng chí Mười Hương đã giáo dục và dìu dắt cậu từ ngày đầu tiên, từ việc tìm hiểu con đường cách mạng đến những lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đạo làm người sống với lý tưởng quang vinh của Đảng...”
Người ta biết đến Quang Đạm không chỉ là một nhà báo mà còn là một học giả uyên thâm, một người thầy đáng kính của nhiều thế hệ sinh viên báo chí. Ông là người đầu tiên bàn đến vấn đề ngôn ngữ báo chí trong bài giảng tại lớp viết báo Huỳnh Thúc Kháng và tiếp tục nghiên cứu vấn đề này trong nhiều năm về sau. Tập bài giảng “Quan điểm báo chí” của ông thực ra là một trong số rất ít giáo trình, tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ báo chí đầu tiên ở nước ta. Nội dung tập tài liệu là một hệ thống những vấn đề lý luận cơ sở của nghiệp vụ báo chí, từ đặc trưng, tính chất của nghề nghiệp, các nguyên tắc cơ bản, các chức năng chủ yếu đến các vấn đề về phương pháp, quy trình sáng tạo một tác phẩm báo chí. Ngay cả khi đã chân yếu, tay run, Quang Đạm vẫn còn say mê với những vấn đề khảo cứu. Và ngày 31.12.1999 Quang Đạm đã trút hơi thở cuối cùng để lại nhiều công việc dang dở, để lại sự tiếc thương cho biết bao học trò, đồng nghiệp và những người cầm bút chân chínhr

Thứ Ba, 7 tháng 4, 2009

Phải biết yêu cuộc đời

-“Cuộc đời vẫn đẹp sao, tình yêu vẫn đẹp sao, dù đạn bom…”
-Bác Viễn hôm nay có gì vui mà mới sáng ra đã muốn làm ca sĩ thế?
-Trí tuệ và con người Việt Nam mình thật tuyệt vời quá bác ạ.
-Câu khen của bác e rằng hơI thừa. Đã có thời cả thế giới phảI ngưỡng mộ Việt Nam như là hiện thân của lòng quả cảm, là biểu tượng của tinh thần bất khuất đấy
-Sự sáng tạo, tinh thần vượt khó giờ vẫn hiện diện khắp nơi. Chỉ tiếc là chúng không được khai thác triệt để. Như ở Vĩnh Phúc có một người phụ nữ hồi nhỏ đã phảI bỏ nhà đI làm công nhân cầu đường, chở hàng thuê trên sông, đã từng có ý định tự tử vì không có tiền trả nợ, giờ đây làm chủ một doanh nghiệp đóng tàu rất lớn, được cả nước biết đến
- Thì sông có khúc người có lúc mà.
-Điều tôI muốn nói là rất nhiều kĩ sư, tiến sỹ đã phảI tới học hỏi kinh nghiệm thiết kế chân vịt cho tàu tảI trọng lớn của người đàn bà hoàn toàn không biết chữ này đấy.
-Không biết thì hỏi, có gì là xấu đâu. Cái đáng sợ nhất là những kẻ giấu dốt nhưng lại có bằng cấp, có chức quyền. Theo bác, những kĩ sư, tiến sỹ này họ học được gì ở nhà trường nhỉ?
-Có trời mới biết được. Ngay đến giáo trình ở bậc Trung học phổ thông mà còn sai bét nhè thì thử hỏi ở các bậc học cao hơn làm sao mà hoàn chỉnh, tử tế được
-Ôi, thế lâu nay chúng ta đều học cái sai, cái dở à?
-ý tôI không phải vậy, có điều nhiều nhà khoa học, nhiều giáo viên của chúng ta thiếu vốn sống thực tế quá. Ai lại thày dạy báo chí mà cả đời không viết nổi cái phóng sự, đi dạy người ta làm kinh tế mà một xu dính túi không có, dạy chế tạo máy mà cái quạt hỏng ở nhà cũng không sửa được…Khá khen thay cho bác Hai Lúa ở Nam bộ, cả đời vùi mặt xuống ruộng mà chế tạo được cả máy bay trực thăng
-Hình như khi thử nghiệm, nó chỉ bay được một đoạn ngắn rồi rơI xuống mà?
-Vấn đề đâu phải ở chỗ nó bay được hay không, mà quan trọng là ở tư duy dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, đặc biệt là phải có tình yêu với cuộc đời, với con người.
-Gớm , bác triết lí quá, tôi nghe chẳng hiểu gì cả
-Trình độ cử nhân của bác làm sao hiểu được suy nghĩ của một tiến sỹ như tôi. Có lẽ tôI phải đi tìm một người ngang tầm để đàm đạo thêm đây. Bye, bye|
Cận

Thứ Năm, 2 tháng 4, 2009

Người giàu chết hết cũng buồn lắm

- Có việc gì mà mặt mũi nghiêm trọng thế bác? - Vừa thấy ông Viễn lấp ló ở cửa, ông Cận vội hỏi.
- Tôi muốn sang bàn với bác một việc. Chẳng là, tôi có chút tiền tiết kiệm không sử dụng đến. Mình già rồi, ruột đã quắt lại ăn được bao nhiêu.Tôi định hàng ngày nấu nồi cháo thịt để ở đầu phố ủng hộ những người thất nghiệp, những người lỡ độ đường, bác thấy thế nào?
- Nhưng với số tiền “còm” liệu tấm lòng của bác kéo dài được mấy bữa?
- Được ngày nào hay ngày ấy. Tôi đang đi vận động mọi người đây, bác cũng tham gia chứ?
-Tôi sẵn sàng, nhưng chẳng lẽ bác không biết nhiều người tổ chức bữa ăn miễn phí chỉ sau một thời gian ngắn đã phải bỏ cuộc hay sao?
- Mọi người chê bữa ăn từ thiện không ngon hay không hợp vệ sinh à?
- Không phải? Gần đây, ở thành phố Hồ Chí Minh có một cụ già tuy không giàu có gì nhưng vẫn cố gắng nấu cơm ngày hai bữa với giá 3000 đồng một suất cho sinh viên, người nghèo, giờ đã phải dẹp tiệm đấy.
- Chắc thức ăn đơn sơ quá không ai nuốt nổi chứ gì?
- Suất cơm rất ngon, đủ dinh dưỡng, nghe nói đúng giá là hơn 10 ngàn đồng. Sở dĩ cụ không cho không mà lấy 3000 đồng để người nghèo khỏi mặc cảm, tự ti khi đến ăn.
- Ngon thế sao mọi người không ăn nhỉ?
- Ngược lại, quán lúc nào cũng nườm nượp khách, nhưng không thấy sinh viên, người nghèo đâu, mà chỉ rặt một lũ đi ôtô, xe máy đắt tiền thôi. Có kẻ vàng bạc đeo đầy người mà ngày nào cũng đến ăn đủ hai bữa đấy!
- Sao những người khá giả lại đi lợi dụng lòng tốt của một bà lão thế nhỉ?
- Thế ông tưởng người giàu họ phóng khoáng, quảng đại lắm à? Có ăn không, ăn hỏng như vậy họ mới có tiền xây nhà, sắm xe chứ.
- Vậy theo bác, tôi phải làm gì với số tiền tiết kiệm bây giờ?
- Theo tôi, bác nên mở quán từ thiện đặc sản, để lôi kéo những kẻ giàu có thích ăn “chạc” đến càng đông càng tốt
- Chết, sao bác lại khuyên tôi như vậy, trong khi còn biết bao người nghèo cần được giúp đỡ?
- Những kẻ xấu xa mà lắm tiền thường thích ăn ngon. Đây chính là nguồn cơn của mọi bệnh tật. Giờ cho ăn thêm nhiều của ngon vật lạ nữa càng khiến chúng chóng chết chứ sao.
- Nhưng nếu nguời giàu chết cả, chỉ còn người nghèo sống với nhau tôi thấy cũng buồn lắm.

CẬN

Xây tổ hạnh phúc

- Tham gia hoạt động cùng mọi người cũng vui đáo để bác Viễn nhỉ?
- Bác đi đâu về mà tim đập thình thịch, mồ hôi nhễ nhại vậy?
- Tôi vừa chạy vài vòng quanh hồ Thành Công, mệt nhưng sảng khoái lắm.
- Hồ Hoàn Kiếm cách nhà có vài trăm mét, tập ở đấy cũng được sao phải đạp xe những 5 cây số ra hồ Thành Công, đúng là đồ rỗi hơi.
- Nhưng hồ ở đó sạch, không khí trong lành, con người thân thiện lắm.
- Bác nói nghe lạ quá, ở cáI đất Hà Nội này làm gì còn hồ sạch
- Hôm nào rảnh bác cứ ra đó sẽ thấy, cả một vùng hồ nằm trong công viên Thành Công không có một cọng rác.
- Người ta cho hòn gạch vào trong túi rác rồi ném chìm nghỉm xuống đáy hồ bác làm sao mà thấy được.
- Đúng là tâm địa của kẻ đổ rác trộm chuyên nghiệp. Người dân ở đó cực kì có ý thức bảo vệ môi trường. Họ rất phẫn nộ khi thấy ai đó ném rác bừa bãi.
- Chuyện lạ đây. Thế cư dân ở đó đều có quốc tịch Singapore à?
- Bác đừng có mà xách mé. Họ là người Hà Nội cả đấy.
- Tôi chẳng tin. Bác có thể cho tôi biết tên tuổi, địa chỉ của người khởi xướng ra việc giữ gìn môi trường ở đó được không?
- Được chứ. Nhưng đó lại là một người Hàn Quốc. Sáng nào ông ấy cũng tập thể dục trong công viên Thành Công. Thấy túi nilon, vỏ chuối, giấy vụn dưới đất, ông ta nhặt hết cho vào cái túi mang theo, sau đó bỏ vào thùng rác công cộng gần nhà. Nhiều người già, trẻ em thấy vậy cũng làm theo.
- Bác nói đối tượng nhặt rác là người già, trẻ em, vậy còn đám thanh niên, chúng làm gì?
- Thì… chúng ra đấy để ôm ấp, hôn hít nhau và để… vứt rác.
- Sao lại bất công thế, phảI cho bọn mất dạy ấy một bài học chứ
- Ai dám làm gì cái đám ba trợn ấy. Nhưng kể ra việc vứt rác bừa bãI của đám thanh niên cũng ít nhiều có tác dụng tích cực. Này nhé, nếu họ không vứt rác xuống hồ thì người đàn ông Hàn quốc và người dân nơi đây còn việc đâu để làm. Cũng nhờ liên tục cúi xuống nhặt rác mà người già mới giãn xương giãn cốt, trẻ em mới mau khoẻ, mau lớn. Đồng thời, do luôn phải đảo mắt tìm rác mà mắt mọi người sẽ trở nên tinh tường hơn. Trên vai luôn phải vác đống rác to đùng cũng khiến cơ bắp của họ có cơ hội phục hồi, phát triển. Và cũng nhờ việc làm thú vị này mà khối cụ cô đơn tìm đến với nhau, xây tổ hạnh phúc đấy.
CẬN

Thứ Ba, 17 tháng 3, 2009

Ngấm ra phết

-Kẻ nào không trân trọng quá khứ, kẻ đó sẽ bị tương lai nhổ vào mặt- Bác Cả chân quê đẩy cửa bước vào, miệng lẩm bẩm, triết lý.
-Thôi nào, em xin! Sớm tinh mơ mà đã tức giận là không tốt cho sức khoẻ đâu- Bà Phó Đoan vỗ về- Có gì bức xúc nói cho em nghe với.
-Cô xem, kỳ thi vừa rồi, có tới hơn 95% học sinh thi môn Sử dưới 5 điểm. Trong đó có hàng nghìn em đạt không điểm
- Thật hả bác? Sao bây giờ học sinh dốt thế nhỉ?
- Ai bảo cô lỗi do học sinh? Cô phải nói là đội ngũ soạn sách giáo khoa dốt mới đúng chứ.
-Bác cứ nói đùa. Người soạn sách giáo khoa toàn cây đa cây đề, toàn giáo sư đầu ngành cả đấy. Sách họ soạn ra bao giờ chẳng là “khuôn vàng thước ngọc.”
-Vấn đề là chúng ta thiếu cái tâm của người cầm bút. ở đời mà “hễ thấy hơi đồng là mê” thì khó viết được cái gì tử tế lắm.
-Vậy thì viết lại sách giáo khoa, đành phải tốn kém thêm chứ biết sao bây giờ.
-Nhưng phải viết sao cho hợp lý, hợp với lứa tuổi các em. Dứt khoát phải bỏ kiểu liệt kê sự kiện, bỏ sự tuyên truyền sáo rỗng ta nhất định thắng, địch nhất định thua cũ rích ấy đi. Viết sao phải để học sinh dễ nhớ, dễ lưu truyền.
-Thì viết theo lối thần thoại, truyền thuyêt của dân gian ấy. Từ bé nghe chuyện Thánh Gióng nhổ tre đằng ngà quật vào đầu giặc, rồi chuyện Lê Lợi mượn gươm thần rùa đánh quân Minh, rồi chuyện Trần Quốc Toản bóp nát quả cam, đến giờ em vẫn nhớ như in.
-Nghe được đấy. Còn cách nào nữa không?
-Thiếu gì cách- Xuân Tóc đỏ từ nãy vẫn ngồi trong góc tối giờ mới chen vào- ở bên Mỹ người ta in sử của dân tộc họ lên những cuộn giấy vệ sinh, mỗi ngày nhẩn nha một tý, thế mà ngấm ra phết bác ạ.
- Sao cậu lại chọn nghề nhặt bóng tenis nhỉ- Bác Cả trầm ngâm hỏi rồi lại tự trả lời- Cậu phải là trưởng ban soạn thảo sách giáo khoa mới đúng chứ.

Nhầm chỗ

-Chã, lấy sách vở ra học bài đi- Bà Phó Đoan bảo con.
-ứ…ừ… Em chã thích học đâu
-Không học để lớn lên đi ăn mày à. Đưa sách đây mẹ hỏi nào: Con hãy cho biết Bà Triệu là người thế nào?
-Thì…thì… là em Hai bà Trưng.
-Vớ vẩn, ai bảo con thế? Thế Lý Công Uẩn là ai?
-Thì… là anh của Lý Thường Kiệt
-Trời ơi! Tốn bao tiền của mà con học hành thế này à? Mang cái roi lại đây.
-Em chã…mẹ có đánh chết, con cũng chã đi học nữa đâu.
-ở trường có đứa nào bắt nạt con à?
-Chã phải, sách viết khó hiểu lắm, học cả đêm mà chã nhớ được gì.
Thấy bà Phó Đoan vung roi định đánh con, bác Cả Chân quê và Xuân tóc đỏ chạy vội vào can:- Thôi nào, anh xin! Có phải chỉ mình thằng Chã chán học đâu. Hàng chục nghìn đứa khác cũng đang bỏ học vì sách giáo khoa kia kìa.
-Chị biết không- Xuân tóc đỏ chen vào- Kỳ thi tốt nghiệp phổ thông vừa rồi có tới hơn 95% học sinh đạt điểm dưới 5 môn Sử đấy.
-Sao học sinh bây giờ dốt thế nhỉ?
-Không phải tại học sinh, mà là đội ngũ soạn sách giáo khoa có vấn đề
-Nếu vậy thì biết trông vào đâu bây giờ? Vậy thì viết lại sách giáo khoa.
-Tât nhiên rồi. Vấn đề là, phải dứt khoát thay người soạn khác, phải bỏ lối liệt kê sự kiện, viết sao để dễ nhớ, dễ lưu truyền- Bác Cả nói
-Thì viết theo lối thần thoại, truyền thuyết dân gian ấy. Hồi bé nghe chuyện Thánh Gióng nhổ tre quật vaò đầu kẻ thù xâm lược, chuyện Lê Lợi mượn gươm thần rùa, chuyện cậu bé Trần Quốc Toản vì căm thù giặc mà bóp nát quả cam… đến giờ em vẫn nhớ như in
Thấy Xuân tóc đỏ định liệt kê thêm, bác Cả xua tay:-Thôi được rồi! Xuân này, sao cậu lại theo nghề nhặt bóng tenis nhỉ? Chỗ của cậu phải là trong ban soạn thảo sách giáo khoa mới đúng chứ.

Một thoáng hương lòng



Mấy bữa nay trời Sài Gòn khá dịu mát, đêm trời còn se lạnh. Không có việc gì làm, đành ngồi nhâm nhi li cà phê nơi quán cóc đối diện Nhà thờ Đức bà. Hình như mấy dãy phố nơi đây dành cho công sở, không thấy nhiều hàng quán ồn ào thường thấy ở thành phố này. Người qua lại ai cũng vội vàng, tất bật. Bỗng thấy mình lạc lõng, chợt dậy lên nỗi nhớ nhà.
Cà phê Sài Gòn nhạt quá, thoang thoảng mùi gạo rang. Dưới đáy chiếc li đầy đá là lớp đường óng ánh để cả ngày vẫn không tan hết. Chẳng giống với cà phê Hà Nội, chỉ là một lớp mỏng nhưng đặc sánh, người không quen nhấp một ngụm thấy nôn nao, suốt buổi vẫn thấy váng vất, ngạt ngào. Người Hà Nội không thích cà phê tan, cà phê công nghiệp, mà dùng tới đâu xay tới đấy. Như thế mới tạo được hương vị riêng, mới cuốn hút, gây nghiện được đối với dân sành sỏi. Chẳng thế mà những cà phê Lâm, cà phê Hói, cà phê Nhân luôn có lượng khách đông đảo trung thành hàng chục năm. Người Hà Nội không uống hai li cà phê mỗi ngày, và không bao giờ coi thứ đồ uống này là nước giải khát. Đang nghĩ miên man bỗng đâu hiện ra một cô gái, khó đoán đã bao nhiêu tuổi. Cô mặc bộ đầm sẫm màu lịch lãm, cổ không cài kín như nhũng cô thư kí ngồi phòng máy lạnh, nhưng cũng không quá trễ nải, lả lơi. Cô ghé vào sạp sách báo cạnh đó trầm ngâm một hồi rồi chọn lấy một quyển, đứng nép sau lưng bà chủ quầy báo, chậm rãi lần giở từng trang, thỉnh thoảng hé làn môi hồng, tủm tỉm. Gió thổi bay làn tóc, cô khe khẽ dùng ngón út vén lên qua tai, cái đầu nghiêng nghiêng, đôi mắt thỉnh thoảng ngước lên dõi về nơi xa ngút. Cô đẹp quá và có vẻ không thích hợp với khung cảnh nơi đây. Sự nhàn tản thế này chỉ con gái Hà Nội mới có. Còn nhớ hồi chiến tranh, có lần đến thăm một đơn vị chiến đấu ngoài bãi sông Hồng. Đứng bên ụ pháo là một cô gái vai đeo súng trường, trên vành tai nhỏ xinh gài một bông hồng trắng muốt. Dù luôn phải ngược xuôi tiếp đạn cho đồng đội, bông hoa vẫn không gãy, không dập dù là một cánh nhỏ. Với những con người như thế này tại sao lại phải âu lo về tương lai nhỉ.
Cô gái nói với người chủ sạp vài câu, xin mảnh giấy báo gói cuốn sách lại rồi cẩn thận đặt vào cái xắc đeo hững hờ trên vai. Ôi giọng nói nhẹ nhàng, gọn gàng, đầm ấm của người con gái Hà Nội lâu lắm rồi mới được nghe. Nó như cơn gió thoảng, không vấp, không vội, đứng xa nghe vẫn rõ từng lời. Con gái Hà Nội ít khi mua mấy cuốn một lúc, không sỗ sàng ném sách lên giỏ xe. Họ thưởng thức sách và lấy làm hạnh phúc khi được lang thang giữa rừng chữ nghĩa. Rồi cô đi, cũng nhẹ nhàng như khi đến. Nắng ùa theo cô, quấn lấy đôi chân mảnh dẻ, thẳng tắp. Bộ đầm cô mặc ôm khít lấy thân hình thon thả, không quá ngắn để khêu gợi, không quá chật để khiêu khích, ẩn hiện những đường cong tuyệt mỹ. Các cô gái Hà Nội khi ra phố ít mặc những bộ đồ có quá hai màu. Với họ, quần áo không nhất thiết phải quá phẳng phiu, dễ làm cho con người trở nên cứng nhắc, nhưng cũng không được quá nhàu nhĩ, cẩu thả. Có vậy, họ mới làm chủ được mình, không lệ thuộc vào trang phục. Cô đi nhanh nhưng vẫn thanh thoát, uyển chuyển, không một chút vội vàng, hấp tấp, nét sang trọng như hòa vào với sự sôi nổi, trẻ trung. Nỗi nhớ Hà Nội cuộn thắt lồng ngực. Không hiểu ngoài ấy còn bao nhiêu cô gái gốc Hà Nội nhỉ? Sao bỗng thấy đôi chân nặng trĩu, chỉ muốn nằm vật ra giường ngủ một giấc cho quên đi nỗi nôn nao trong lòng.

Trần Hoàng